Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

QUYỀN ĐỀ NGHỊ GIA HẠN THỜI HẠN TỐ TỤNG CỦA CÁC BÊN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI XEM XÉT GIA HẠN THỜI HẠN TỐ TỤNG TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP NÀO?

03/02/2026

Trong tố tụng trọng tài thương mại, thời hạn tố tụng được thiết lập nhằm bảo đảm tính nhanh chóng, hiệu quả và chung thẩm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết tranh chấp, do tính chất phức tạp của vụ việc hoặc các yếu tố khách quan phát sinh, việc tuân thủ cứng nhắc các thời hạn tố tụng có thể ảnh hưởng đến quyền tranh tụng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên.

Xuất phát từ yêu cầu đó, pháp luật về trọng tài thương mại cho phép các bên đề nghị gia hạn thời hạn tố tụng trong những trường hợp nhất định, trên cơ sở xem xét, quyết định của Hội đồng Trọng tài.

 

Vấn đề pháp lý đặt ra là: “Các bên có quyền đề nghị gia hạn thời hạn tố tụng trong những trường hợp nào và Hội đồng Trọng tài căn cứ vào đâu để xem xét, chấp thuận việc gia hạn?”

1. Cơ sở pháp lý về thời hạn tố tụng và việc gia hạn trong trọng tài

Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật TTTM) không quy định một điều khoản riêng biệt về gia hạn thời hạn tố tụng trọng tài. Nếu rà soát Luật TTTM thì thấy có một số các quy định về thời hạn tố tụng được phép gia hạn và thời hạn tố tụng không được phép gia hạn.

Về thời hạn tố tụng được phép gia hạn, ví như khoản 2 Điều 35 Luật TTTM quy định: Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không có quy định khác, thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, bị đơn phải gửi cho Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ. Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, thời hạn này có thể được Trung tâm trọng tài gia hạn căn cứ vào tình tiết cụ thể của vụ việc”.

Tại khoản 2 Điều 9 Quy tắc Tố tụng trọng tài MCAC cũng có quy định: “Trung tâm có thể gia hạn thời hạn gửi Bản tự bảo vệ khi có yêu cầu gia hạn của Bị đơn. Yêu cầu gia hạn phải được lập bằng văn bản và phải gửi để Trung tâm nhận được trước khi hết thời hạn gửi Bản tự bảo vệ hoặc trước khi hết thời hạn gia hạn gửi Bản tự bảo vệ”.

Vậy với trường hợp bị đơn có đề nghị gia hạn với lý do chính đáng, Hội đồng Trọng tài có thẩm quyền xem xét và quyết định việc gia hạn thời hạn nộp Bản tự bảo vệ, trên cơ sở đánh giá tính cần thiết và mức độ ảnh hưởng đến tiến trình giải quyết tranh chấp.

Về thời hạn tố tụng không được phép gia hạn, ví như thời hạn chỉ định Trọng tài viên là thời hạn mang tính bắt buộc do Luật quy định, gắn liền với thủ tục thành lập Hội đồng Trọng tài, nên không thuộc phạm vi được gia hạn. Theo khoản 2 Điều 35 Luật TTTM quy định: “Đối với vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn và Trọng tài viên bản tự bảo vệ, tên và địa chỉ của người mà mình chọn làm Trọng tài viên”.

Tại khoản 2 Điều 9 Quy tắc Tố tụng trọng tài MCAC cũng có quy định: “Trong trường hợp có yêu cầu gia hạn thời hạn gửi Bản tự bảo vệ, Bị đơn vẫn phải chọn Trọng tài viên hoặc yêu cầu Trung tâm chỉ định Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều này”. Pháp luật không đặt ra cơ chế gia hạn thời hạn chọn Trọng tài viên, mà thiết lập hệ quả pháp lý thay thế nhằm bảo đảm việc thành lập Hội đồng Trọng tài không bị kéo dài hoặc đình trệ. Việc không cho phép gia hạn thời hạn này là cần thiết để bảo đảm tiến độ tố tụng và tính hiệu quả của phương thức trọng tài.

Đồng thời, thông qua các quy định về nguyên tắc tố tụng và thẩm quyền điều hành thủ tục của Hội đồng Trọng tài, pháp luật đã thiết lập cơ sở pháp lý cho việc xem xét gia hạn trong những trường hợp cần thiết. Trên cơ sở đó, trong quá trình tố tụng, mỗi bên có quyền đề nghị Hội đồng Trọng tài gia hạn các thời hạn tố tụng (thời hạn nộp bản trình bày, chứng cứ, thời hạn mở phiên họp, thời hạn thực hiện các yêu cầu tố tụng khác), với điều kiện phải:

  • Gửi đề nghị bằng văn bản;
  • Nêu rõ thời hạn đề nghị gia hạn;
  • Trình bày lý do chính đáng của việc gia hạn.

Việc đề nghị gia hạn không đương nhiên được chấp thuận, mà thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Hội đồng Trọng tài.

2. Những trường hợp phố biến Hội đồng trọng tài xem xét gia hạn thời hạn tố tụng

Thực tế, Hội đồng trọng tài có thể xem xét gia hạn thời gian tố tụng trọng tài theo yêu cầu của một hoặc các bên trong vụ tranh chấp khi xảy ra một trong trường hợp sau:

Thứ nhất, trường hợp vụ tranh chấp có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều giao dịch, nhiều chủ thể hoặc khối lượng chứng cứ lớn, đòi hỏi các bên trong vụ tranh chấp cần thêm thời gian hợp lý để thu thập, rà soát và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Hội đồng Trọng tài.

Thứ hai, trường hợp phát sinh sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, khiến việc thực hiện đúng thời hạn tố tụng đã được ấn định trở nên không thể hoặc không thể thực hiện kịp thời. Sự kiện bất khả kháng được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép như thiên tai, dịch bệnh, sự cố kỹ thuật nghiêm trọng không thể khắc phục… Còn trở ngại khách quan được hiểu là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

 

Thứ ba, trường hợp các bên trong vụ tranh chấp đạt được thỏa thuận thống nhất về việc gia hạn thời hạn tố tụng, với điều kiện thỏa thuận đó không trái với các quy định mang tính bắt buộc của Luật TTTM và không làm ảnh hưởng đến trật tự tố tụng trọng tài.

Trong các trường hợp nêu trên, việc đề nghị gia hạn phải được thực hiện bằng văn bản, nêu rõ lý do chính đáng và xác định cụ thể thời hạn đề nghị gia hạn là cơ sở để Hội đồng trọng tài sẽ xem xét và quyết định.

3. Kết luận

Quyền đề nghị gia hạn thời hạn tố tụng của các bên trong tố tụng trọng tài không phải là quyền đương nhiên mà là quyền có điều kiện, được đặt trong khuôn khổ các nguyên tắc và quy định của Luật TTTM. Việc gia hạn chỉ được chấp thuận khi có lý do chính đáng, phù hợp với tính chất vụ tranh chấp và không làm ảnh hưởng đến tính nhanh chóng, hiệu quả của tố tụng trọng tài.

Khi xem xét đề nghị gia hạn, Hội đồng Trọng tài sẽ đánh giá một cách toàn diện các yếu tố pháp lý và thực tiễn của vụ việc, đặc biệt là tính chất của thời hạn được đề nghị gia hạn, nhằm phân biệt rõ giữa các thời hạn tố tụng có thể gia hạn và các thời hạn mang tính bắt buộc do Luật quy định. Việc áp dụng đúng đắn cơ chế gia hạn góp phần bảo đảm quyền tranh tụng của các bên, đồng thời duy trì hiệu quả và uy tín của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

 

 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "Quyền đề nghị gia hạn thời hạn tố tụng của các bên trong tố tụng trọng tài: hội đồng trọng tài xem xét gia hạn thời hạn tố tụng trong những trường hợp nào?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

Tin liên quan

YÊU CẦU THAY ĐỔI TRỌNG TÀI VIÊN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
27 01/2026

YÊU CẦU THAY ĐỔI TRỌNG TÀI VIÊN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

Quy định pháp luật về yêu cầu thay đổi Trọng tài viên trong tố tụng trọng tài thương mại và thẩm quyền quyết định theo Luật Trọng tài và Quy tắc MCAC.

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ĐƯỢC XÁC ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?
20 01/2026

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ĐƯỢC XÁC ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

Quy định về thời hiệu khởi kiện trong trọng tài thương mại là 02 năm hay 03 năm? Phân tích sự khác biệt giữa Luật Trọng tài thương mại 2010 và Bộ luật Dân sự 2015 cùng các đề xuất sửa đổi mới nhất

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG