Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00
|Email: contact@mcac.vn
|Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799
| Ngôn ngữ:Điện thoại: 0935 925 068
26/10/2026
Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, các bên không bắt buộc phải chờ Hội đồng trọng tài ban hành phán quyết mới có thể chấm dứt tranh chấp; các bên có thể chủ động thương lượng, hòa giải để tìm phương án phù hợp với lợi ích của mình.
Vấn đề đặt ra là: Trong trường hợp các bên hòa giải thành, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên có giá trị pháp lý như thế nào và có được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự hay không?

Theo Điều 9 LTTTM, trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Điều 38 LTTTM ghi nhận rằng, kể từ thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, các bên vẫn có quyền tự mình thương lượng, thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp.
Điều 58 LTTTM quy định: “Theo yêu cầu của các bên, Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp”.
Như vậy, Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải theo yêu cầu của các bên theo Điều 58 LTTTM và trên cơ sở tôn trọng thỏa thuận của các bên quy định tại khoản 1 Điều 4 LTTTM. Khi thống nhất được phương án giải quyết tranh chấp, các bên cần thực hiện đầy đủ trình tự tại Điều 58 LTTTM để kết quả hòa giải được Hội đồng trọng tài công nhận.
Theo Điều 58 LTTTM, khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài lập biên bản hòa giải thành có chữ ký của các bên và xác nhận của các Trọng tài viên; sau đó ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Điều luật xác định: “Quyết định này là chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài”.
Thứ nhất, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên có giá trị như phán quyết trọng tài. Khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn rõ: phán quyết trọng tài quy định tại khoản 10 Điều 3 và Điều 68 LTTTM bao gồm cả quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên theo Điều 58 và phán quyết trọng tài theo Điều 61 LTTTM. Quyết định công nhận chịu sự điều chỉnh của cơ chế pháp lý áp dụng đối với phán quyết trọng tài mặc dù nội dung xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên.
Thứ hai, quyết định công nhận có tính chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Điều 58 LTTTM xác lập tính chung thẩm của quyết định công nhận; do quyết định này có giá trị như phán quyết trọng tài nên hiệu lực kể từ ngày ban hành được xác định theo khoản 5 Điều 61 LTTTM.
Thứ ba, cần phân biệt biên bản hòa giải thành với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Theo Điều 58 LTTTM, biên bản hòa giải thành là văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về việc giải quyết tranh chấp, có chữ ký của các bên và xác nhận của các Trọng tài viên. Trên cơ sở kết quả hòa giải thành, Hội đồng trọng tài ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Quyết định công nhận có tính chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài, được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự khi đáp ứng các điều kiện luật định. Do đó, biên bản hòa giải thành không thay thế quyết định công nhận để làm căn cứ yêu cầu thi hành theo cơ chế thi hành phán quyết trọng tài.
Theo Điều 65 và Điều 67 LTTTM, Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài; việc thi hành được thực hiện theo pháp luật về thi hành án dân sự. Khoản 3 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (Luật số 106/2025/QH15) xác định phán quyết trọng tài theo LTTTM thuộc diện được thi hành. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 theo khoản 1 Điều 115. Căn cứ Điều 58 LTTTM, quyết định công nhận có giá trị như phán quyết trọng tài, do đó căn cứ điểm h khoản 1 Điều 32 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Khoản 1 Điều 66 LTTTM quy định: Hết thời hạn thi hành mà bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện và cũng không yêu cầu hủy theo Điều 69 LTTTM, bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành. Nếu có yêu cầu hủy và Tòa án quyết định không hủy, quyết định công nhận được thi hành theo khoản 8 Điều 71 LTTTM. Như vậy, việc bên có nghĩa vụ không thực hiện thỏa thuận đã được công nhận không buộc bên còn lại phải khởi kiện lại để yêu cầu xác định lại nghĩa vụ đó.
Theo Điều 58 LTTTM, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên do Hội đồng trọng tài ban hành có tính chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài, được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự khi đáp ứng điều kiện luật định.
Như vậy, giá trị pháp lý của hòa giải thành trong tố tụng trọng tài không nằm ở biên bản hòa giải thành hay thỏa thuận của các bên, mà ở quyết định công nhận do Hội đồng trọng tài ban hành theo Điều 58 LTTTM. Từ khi quyết định này được ban hành, thỏa thuận của các bên không còn chỉ là cam kết dân sự mà được đặt trong cơ chế của phán quyết trọng tài: Khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành và không yêu cầu hủy, bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành (khoản 1 Điều 66 LTTTM).
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "CÁC BÊN HÒA GIẢI THÀNH TRONG QUÁ TRÌNH TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: KẾT QUẢ HÒA GIẢI CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ NHƯ THẾ NÀO?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Trong các giao dịch thương mại quốc tế, các bên thường thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh hợp đồng có đương nhiên được áp dụng để điều chỉnh thỏa thuận trọng tài hay không? Trường hợp các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì pháp luật của quốc gia nào được sử dụng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài?
Vậy khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án có được đánh giá lại chứng cứ, xem xét lại quyền và nghĩa vụ của các bên hoặc thay đổi nội dung mà Hội đồng trọng tài đã quyết định hay không?