Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

LUẬT NÀO ĐIỀU CHỈNH THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI?

23/10/2026

Trong các giao dịch thương mại quốc tế, các bên thường thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh hợp đồng có đương nhiên được áp dụng để điều chỉnh thỏa thuận trọng tài hay không? Trường hợp các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì pháp luật của quốc gia nào được sử dụng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài?

Về nguyên tắc, pháp luật điều chỉnh hợp đồng không đương nhiên là pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài. Việc xác định pháp luật áp dụng đối với hai vấn đề này cần được xem xét riêng biệt, trên cơ sở thỏa thuận của các bên và các quy định pháp luật có liên quan.

Việc xác định đúng pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa quan trọng đối với việc đánh giá hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp và khả năng công nhận, thi hành phán quyết trọng tài.

Theo khoản 4 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (LTTTM), tranh chấp có yếu tố nước ngoài được xác định theo các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự.

1. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng có đồng thời điều chỉnh thỏa thuận trọng tài không?

Theo khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều này. Trường hợp không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng được áp dụng.

Bên cạnh đó, Điều 19 LTTTM quy định thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Từ nguyên tắc về tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, cần phân biệt pháp luật điều chỉnh nội dung hợp đồng với pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài. Theo đó, việc các bên lựa chọn pháp luật của một quốc gia để điều chỉnh hợp đồng không nhất thiết đồng nghĩa với việc pháp luật đó được áp dụng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Quan điểm này cũng được đề cập tại Mục 2.5.2 Sổ tay pháp luật về trọng tài và hòa giải do Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) xây dựng. Theo đó, trên cơ sở nguyên tắc độc lập, pháp luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài được xác định riêng với pháp luật điều chỉnh phần còn lại của hợp đồng.[1]

Như vậy, việc xác định pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài cần căn cứ vào nội dung thỏa thuận, ý chí của các bên và quy định pháp luật có liên quan, thay vì mặc nhiên áp dụng pháp luật điều chỉnh hợp đồng.

2. Pháp luật nào được áp dụng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài?

Đối với thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài, pháp luật áp dụng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài cần được xem xét tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên và giai đoạn tố tụng có liên quan.

Trường hợp các bên có thỏa thuận lựa chọn pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài

Các bên có thể thỏa thuận cụ thể về pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài nhằm xác định căn cứ pháp lý để đánh giá hiệu lực của thỏa thuận này.

Đối với thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, điểm a khoản 1 Điều V Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài ghi nhận việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo pháp luật mà các bên đã lựa chọn.

Tương ứng, điểm b khoản 1 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) quy định trường hợp thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng là một trong những căn cứ để Tòa án Việt Nam không công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài.

Theo khoản 1 Điều 459 BLTTDS, việc không công nhận trên căn cứ này được xem xét khi chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp. Đồng thời, khoản 4 Điều 458 BLTTDS quy định khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Tòa án không được xét xử lại tranh chấp đã được trọng tài nước ngoài ra phán quyết.

Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài

Theo điểm b khoản 1 Điều 459 BLTTDS, trường hợp các bên không lựa chọn pháp luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài thì hiệu lực pháp lý của thỏa thuận được xem xét theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên.

Quy định này phù hợp với điểm a khoản 1 Điều V Công ước New York năm 1958.

Tuy nhiên, cần phân biệt đây là quy định được áp dụng trong thủ tục xem xét công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài. Do đó, không thể mặc nhiên kết luận rằng pháp luật của nước nơi phán quyết được tuyên sẽ điều chỉnh tất cả các vấn đề liên quan đến thỏa thuận trọng tài trong mọi giai đoạn tố tụng.

3. Trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài tại Việt Nam

Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài được giải quyết bằng trọng tài tại Việt Nam, cần phân biệt pháp luật áp dụng để giải quyết nội dung tranh chấp, pháp luật điều chỉnh thủ tục tố tụng trọng tài và pháp luật điều chỉnh hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Thứ nhất, về pháp luật áp dụng để giải quyết nội dung tranh chấp.

Theo khoản 2 Điều 14 LTTTM, đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng, Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.

Quy định này điều chỉnh việc xác định pháp luật áp dụng để giải quyết nội dung tranh chấp, không phải là căn cứ trực tiếp để xác định pháp luật điều chỉnh hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Thứ hai, về việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Theo khoản 1 Điều 43 LTTTM, trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, khả năng thực hiện thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình.

Trường hợp một bên yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài với lý do không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo điểm a khoản 2 Điều 68 LTTTM, Tòa án xem xét căn cứ này trên cơ sở các quy định có liên quan của LTTTM, đặc biệt là Điều 16, Điều 18, Điều 19 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP.

LTTTM hiện chưa quy định một quy tắc xung đột pháp luật mang tính khái quát để xác định pháp luật điều chỉnh hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong mọi trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, việc xác định pháp luật áp dụng cần được xem xét trong từng trường hợp cụ thể.

Thứ ba, về hướng tiếp cận trong thực tiễn trọng tài quốc tế.

Theo Mục 2.5.2 Sổ tay pháp luật về trọng tài và hòa giải, pháp luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài trong tranh chấp có yếu tố nước ngoài trước hết là pháp luật do các bên lựa chọn. Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn, pháp luật của nước nơi có địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được xác định là pháp luật áp dụng.[2]

Liên quan đến địa điểm giải quyết tranh chấp, khoản 8 Điều 3 LTTTM quy định đây là nơi Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo sự lựa chọn của các bên hoặc do Hội đồng trọng tài quyết định nếu các bên không có thỏa thuận.

Cần lưu ý, hướng tiếp cận được đề cập trong Sổ tay có giá trị tham khảo về chuyên môn và thực tiễn áp dụng pháp luật, không phải là quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung.

Do đó, để hạn chế những cách hiểu khác nhau về pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài, các bên nên có thỏa thuận rõ ràng ngay từ thời điểm giao kết hợp đồng.

4. Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi soạn thảo thỏa thuận trọng tài?

Để hạn chế tranh chấp liên quan đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và pháp luật áp dụng, doanh nghiệp cần lưu ý:

  • Lựa chọn rõ pháp luật áp dụng: Phân biệt pháp luật điều chỉnh hợp đồng với pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài. Các bên có thể quy định riêng: “Thỏa thuận trọng tài này được điều chỉnh bởi pháp luật của [quốc gia/vùng lãnh thổ được lựa chọn]”.
  • Xác định cụ thể phương thức giải quyết tranh chấp: Quy định rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền hoặc hình thức trọng tài vụ việc, quy tắc tố tụng trọng tài và địa điểm giải quyết tranh chấp.
  • Bảo đảm tính thống nhất của các điều khoản: Rà soát các quy định về pháp luật áp dụng, địa điểm giải quyết tranh chấp và tổ chức trọng tài nhằm tránh mâu thuẫn hoặc cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng.
  • Đánh giá khả năng công nhận và thi hành phán quyết: Cân nhắc quy định pháp luật của quốc gia nơi dự kiến yêu cầu công nhận, thi hành phán quyết, đặc biệt trong trường hợp tài sản của bên phải thi hành nằm ở nước ngoài.

Việc xác định rõ pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài ngay từ giai đoạn giao kết hợp đồng góp phần hạn chế tranh chấp về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền giải quyết tranh chấp, đồng thời giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quá trình công nhận, thi hành phán quyết trọng tài.

Đối với các hợp đồng có yếu tố nước ngoài, việc xây dựng thỏa thuận trọng tài chặt chẽ, thống nhất và phù hợp với pháp luật có liên quan là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi phát sinh tranh chấp thương mại quốc tế.
 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "LUẬT NÀO ĐIỀU CHỈNH THỎA THUẬN TRỌNG TÀI TRONG HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:


[1] Tòa án nhân dân tối cao và Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), Sổ tay pháp luật về trọng tài và hòa giải, NXB Thanh Niên, 2017, Mục 2.5.2, tr. 27.

[2] Tòa án nhân dân tối cao và Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), Sổ tay pháp luật về trọng tài và hòa giải, NXB Thanh Niên, 2017, Mục 2.5.2, tr. 27.

Tin liên quan

TÒA ÁN CÓ ĐƯỢC XEM XÉT LẠI NỘI DUNG TRANH CHẤP KHI GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI KHÔNG?
21 10/2026

TÒA ÁN CÓ ĐƯỢC XEM XÉT LẠI NỘI DUNG TRANH CHẤP KHI GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI KHÔNG?

Vậy khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án có được đánh giá lại chứng cứ, xem xét lại quyền và nghĩa vụ của các bên hoặc thay đổi nội dung mà Hội đồng trọng tài đã quyết định hay không?

ĐÃ KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN, DOANH NGHIỆP CÓ THỂ CHUYỂN SANG GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI KHÔNG?
19 10/2026

ĐÃ KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN, DOANH NGHIỆP CÓ THỂ CHUYỂN SANG GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI KHÔNG?

Việc đã khởi kiện tại Tòa án có loại trừ khả năng giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hay không? Cần xem xét thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài, hiệu lực và phạm vi của thỏa thuận, đồng thời xác định vụ án đã được Tòa án thụ lý hay mới ở giai đoạn tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện.

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG