Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

TÒA ÁN CÓ ĐƯỢC XEM XÉT LẠI NỘI DUNG TRANH CHẤP KHI GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI KHÔNG?

21/10/2026

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, sau khi Hội đồng trọng tài ban hành phán quyết, một bên có thể không đồng ý với kết quả giải quyết và yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không đồng nghĩa với việc tranh chấp sẽ được Tòa án xem xét, giải quyết lại từ đầu.

Vậy khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án có được đánh giá lại chứng cứ, xem xét lại quyền và nghĩa vụ của các bên hoặc thay đổi nội dung mà Hội đồng trọng tài đã quyết định hay không?

1. Nguyên tắc Tòa án không xét xử lại nội dung tranh chấp

Theo khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM), phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Khoản 4 Điều 71 LTTTM quy định:

"Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 68 của Luật này và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết."

Đồng thời, khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn rằng, khi xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Hội đồng xét đơn không xét lại nội dung vụ tranh chấp mà cần kiểm tra phán quyết có thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 LTTTM hay không.

Như vậy, Tòa án không đóng vai trò là cấp xét xử lại đối với phán quyết trọng tài. Việc xem xét yêu cầu hủy phán quyết được giới hạn trong phạm vi các căn cứ do pháp luật quy định, không nhằm giải quyết lại các yêu cầu mà Hội đồng trọng tài đã xem xét, quyết định.

2. Tòa án được xem xét những vấn đề nào khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài?

Theo khoản 2 Điều 68 LTTTM, phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;
  • Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với quy định của LTTTM;
  • Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài;
  • Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; hoặc Trọng tài viên nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết;
  • Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Trong quá trình xem xét, Tòa án có thể kiểm tra các tài liệu, chứng cứ có liên quan để xác định phán quyết trọng tài có thuộc một trong những căn cứ nêu trên hay không.

Đặc biệt, đối với căn cứ phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP yêu cầu Tòa án phải xác định được nguyên tắc cơ bản bị vi phạm, sự liên quan của nguyên tắc đó đến việc giải quyết tranh chấp và mức độ xâm phạm nghiêm trọng đến các lợi ích được pháp luật bảo vệ.

Do đó, việc Tòa án xem xét các tài liệu liên quan đến nội dung phán quyết nhằm xác định căn cứ hủy phải được phân biệt với việc đánh giá, giải quyết lại nội dung tranh chấp.

3. Không đồng ý với nhận định của Hội đồng trọng tài có phải là căn cứ yêu cầu hủy phán quyết?

Trong thực tế, một bên có thể cho rằng Hội đồng trọng tài đánh giá chứng cứ chưa phù hợp, xác định không đúng nghĩa vụ hợp đồng hoặc chấp nhận mức bồi thường thiệt hại không có căn cứ.

Tuy nhiên, việc một bên không đồng ý với cách đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật hoặc kết quả giải quyết của Hội đồng trọng tài không đương nhiên là căn cứ để Tòa án hủy phán quyết trọng tài.

Chẳng hạn, nếu Hội đồng trọng tài đã xem xét chứng cứ và quyết định một bên phải thanh toán khoản tiền phát sinh từ hợp đồng, bên phải thanh toán không thể chỉ dựa vào việc không đồng ý với số tiền được tuyên để yêu cầu Tòa án xác định lại nghĩa vụ thanh toán.

Trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, bên yêu cầu phải xác định được căn cứ pháp lý tương ứng tại khoản 2 Điều 68 LTTTM. Nghĩa vụ chứng minh được thực hiện theo khoản 3 Điều 68 LTTTM; riêng đối với căn cứ phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh, thu thập chứng cứ để quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài.

4. Hệ quả pháp lý khi Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Theo khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP, nếu phán quyết trọng tài không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 LTTTM, Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định không hủy phán quyết trọng tài.

Trường hợp có căn cứ hủy theo quy định của pháp luật và Hội đồng trọng tài không khắc phục hoặc không thể khắc phục được theo quy định tại khoản 7 Điều 71 LTTTM, Tòa án có thể quyết định hủy phán quyết trọng tài.

Theo khoản 8 Điều 71 LTTTM, nếu phán quyết trọng tài bị hủy, các bên có thể thỏa thuận lại để đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài hoặc một bên có quyền khởi kiện tại Tòa án. Ngược lại, nếu Tòa án quyết định không hủy, phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy, thủ tục yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là cơ chế kiểm soát tư pháp trong phạm vi luật định, không phải thủ tục xét xử lại nội dung tranh chấp. Nguyên tắc này góp phần bảo đảm tính chung thẩm của phán quyết trọng tài, đồng thời duy trì vai trò của Tòa án trong việc kiểm soát tính hợp pháp của hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "TÒA ÁN CÓ ĐƯỢC XEM XÉT LẠI NỘI DUNG TRANH CHẤP KHI GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI KHÔNG?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

Tin liên quan

ĐÃ KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN, DOANH NGHIỆP CÓ THỂ CHUYỂN SANG GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI KHÔNG?
19 10/2026

ĐÃ KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN, DOANH NGHIỆP CÓ THỂ CHUYỂN SANG GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI KHÔNG?

Việc đã khởi kiện tại Tòa án có loại trừ khả năng giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hay không? Cần xem xét thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài, hiệu lực và phạm vi của thỏa thuận, đồng thời xác định vụ án đã được Tòa án thụ lý hay mới ở giai đoạn tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện.

AI PHẢI CHỊU PHÍ TRỌNG TÀI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI?
15 10/2026

AI PHẢI CHỊU PHÍ TRỌNG TÀI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI?

Bên thua kiện có phải chịu toàn bộ phí trọng tài không? Theo khoản 3 Điều 34 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: "Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng trọng tài quy định khác hoặc Hội đồng trọng tài có sự phân bổ khác."

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG