Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00
|Email: contact@mcac.vn
|Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799
| Ngôn ngữ:Điện thoại: 0935 925 068
19/10/2026
Trong thực tiễn, có trường hợp doanh nghiệp đã khởi kiện tại Tòa án nhưng sau đó mới phát hiện hợp đồng giữa các bên có thỏa thuận trọng tài. Cũng có trường hợp hợp đồng ban đầu không có điều khoản trọng tài, nhưng sau khi tranh chấp phát sinh, các bên thống nhất lựa chọn Trọng tài để giải quyết.
Việc đã khởi kiện tại Tòa án có loại trừ khả năng giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hay không? Cần xem xét thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài, hiệu lực và phạm vi của thỏa thuận, đồng thời xác định vụ án đã được Tòa án thụ lý hay mới ở giai đoạn tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện.

Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM) xác định thỏa thuận trọng tài là điều kiện để giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Theo Điều 6 LTTTM, khi tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận đó vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.
Điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể cách xử lý đối với tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài và không thuộc các trường hợp tại khoản 3 Điều này:
Như vậy, việc một bên khởi kiện tại Tòa án không đương nhiên làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đã được xác lập. Doanh nghiệp cần cung cấp thỏa thuận trọng tài và các tài liệu liên quan để Tòa án xem xét, xử lý thẩm quyền theo quy định.
Khoản 1 Điều 5 LTTTM cho phép các bên xác lập thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh. Vì vậy, việc hợp đồng ban đầu không có điều khoản trọng tài không cản trở các bên thống nhất lựa chọn Trọng tài bằng một thỏa thuận được xác lập sau đó.
Thỏa thuận này phải đáp ứng các điều kiện của LTTTM, bao gồm: Tranh chấp thuộc phạm vi giải quyết của Trọng tài theo Điều 2; hình thức thỏa thuận phù hợp với Điều 16; người xác lập có thẩm quyền và thỏa thuận không thuộc các trường hợp vô hiệu tại Điều 18. Theo Điều 16 LTTTM, các bên có thể lập thỏa thuận trọng tài riêng; không nhất thiết phải sửa đổi hợp đồng ban đầu.
Nếu Tòa án chưa thụ lý vụ án, người khởi kiện có thể rút đơn để Tòa án trả lại theo điểm g khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời thực hiện thủ tục khởi kiện tại Trọng tài trên cơ sở thỏa thuận trọng tài hợp lệ.
Nếu Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền khi chưa có thỏa thuận trọng tài, việc các bên xác lập thỏa thuận trọng tài sau đó không đương nhiên làm chấm dứt việc giải quyết tại Tòa án. Các bên cần đồng thời xử lý các yêu cầu đang được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng phù hợp.
Để hạn chế tranh chấp về thẩm quyền, các bên nên xác định rõ trong thỏa thuận trọng tài: Tranh chấp được đưa ra giải quyết, phạm vi yêu cầu, hình thức trọng tài và Trung tâm trọng tài được lựa chọn nếu giải quyết bằng Trọng tài quy chế. Đồng thời, cần thống nhất việc xử lý các yêu cầu đang được Tòa án giải quyết và kiểm tra hiệu lực của quyết định đình chỉ có liên quan.
Việc đưa tranh chấp ra Trọng tài không phải là thủ tục Tòa án tự động chuyển hồ sơ vụ án sang Trung tâm trọng tài. Khi lựa chọn Trọng tài quy chế, nguyên đơn phải nộp đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đến Trung tâm trọng tài theo Điều 30 LTTTM và quy tắc tố tụng áp dụng.
Theo khoản 1 Điều 43 LTTTM, trước khi giải quyết nội dung tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải kiểm tra hiệu lực và khả năng thực hiện của thỏa thuận trọng tài, đồng thời xác định thẩm quyền của mình.
Đối với tranh chấp từng được khởi kiện tại Tòa án, việc xem xét thẩm quyền cần đặt trong mối liên hệ với phạm vi thỏa thuận trọng tài, các yêu cầu được đưa ra giải quyết và tình trạng tố tụng tại Tòa án. Việc các bên thống nhất lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án đã đình chỉ vụ án không thay thế việc Hội đồng trọng tài xem xét thẩm quyền theo Điều 43 LTTTM.
Nếu không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài thuộc trường hợp quy định tại Điều 43 LTTTM, bên có liên quan có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại theo Điều 44 LTTTM. Thời hạn yêu cầu là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định; bên khiếu nại phải đồng thời thông báo cho Hội đồng trọng tài.
Trước khi thực hiện, doanh nghiệp cần lưu ý:
Cần phân biệt vụ án đang được giải quyết với nội dung tranh chấp đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo nguyên tắc tại Điều 19 Bộ luật Tố tụng dân sự, các bên phải tôn trọng và chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực; không thể xem thỏa thuận trọng tài được lập sau đó là căn cứ để xét xử lại nội dung đã được giải quyết.
Trường hợp lựa chọn Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung (MCAC), các bên có thể tham khảo điều khoản trọng tài mẫu của MCAC và điều chỉnh cho phù hợp với tranh chấp cụ thể, đồng thời làm rõ việc xử lý vụ án đang được Tòa án giải quyết nếu có.
Việc đã khởi kiện tại Tòa án không đương nhiên loại trừ khả năng giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Nếu đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ và có thể thực hiện được, thẩm quyền được xác định theo Điều 6 LTTTM và hướng dẫn có liên quan. Nếu thỏa thuận trọng tài chỉ được xác lập sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, các bên cần xử lý các yêu cầu đang được Tòa án giải quyết, kiểm tra thời hiệu và thực hiện thủ tục khởi kiện tại Trọng tài phù hợp.
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "ĐÃ KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN, DOANH NGHIỆP CÓ THỂ CHUYỂN SANG GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI KHÔNG?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Bên thua kiện có phải chịu toàn bộ phí trọng tài không? Theo khoản 3 Điều 34 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: "Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng trọng tài quy định khác hoặc Hội đồng trọng tài có sự phân bổ khác."
Cùng với sự phát triển của giao dịch điện tử, việc giao kết hợp đồng thương mại thông qua chữ ký điện tử, chữ ký số, thư điện tử hoặc các phương thức điện tử khác ngày càng trở nên phổ biến. Trong các hợp đồng này, các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng.