Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI

23/06/2026

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, tranh chấp kinh doanh thương mại là hiện tượng tất yếu phát sinh từ quá trình xác lập và thực hiện các giao dịch giữa các chủ thể kinh doanh. Bên cạnh con đường truyền thống là giải quyết tại Tòa án, trọng tài thương mại ngày càng trở thành phương thức được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn. Sự dịch chuyển này bắt nguồn từ chính những ưu thế vượt trội của trọng tài như tính linh hoạt về thủ tục, bảo mật thông tin thương mại, phán quyết được đưa ra bởi các chuyên gia trong ngành và đặc biệt là khả năng công nhận, thi hành rộng rãi trên trường quốc tế. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp kinh doanh thương mại đều có thể giải quyết bằng trọng tài, bởi lẽ pháp luật mỗi quốc gia luôn thiết lập các "hàng rào" nhằm bảo vệ trật tự công và lợi ích chung của xã hội.

 

1. Các loại tranh chấp trong kinh doanh thương mại có thể đưa ra trọng tài

1.1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại (Khoản 1 Điều 2 LTTTM 2010)

Đây là nhóm tranh chấp chiếm tỷ lệ lớn nhất và đồng thời phản ánh rõ nét nhất chức năng cốt lõi của cơ chế trọng tài thương mại trong thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh. Để xác định một tranh chấp có thuộc nhóm này hay không, cần xem xét bản chất của quan hệ tranh chấp dựa trên khái niệm “hoạt động thương mại” theo Điều 3 Luật Thương mại năm 2005. Theo đó, hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác có mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Trong thực tiễn, nhóm tranh chấp về hoạt động này thường bao gồm:

  • Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và quốc tế;
  • Tranh chấp về cung ứng dịch vụ thương mại;
  • Tranh chấp trong quan hệ đại lý, môi giới và ủy thác thương mại;
  • Tranh chấp liên quan đến hệ thống phân phối và nhượng quyền thương mại;
  • Tranh chấp trong lĩnh vực logistics, vận tải, giao nhận hàng hóa;
  • Tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện hợp đồng;
  • Tranh chấp hợp đồng xây dựng, hợp đồng EPC, hợp đồng PPP;
  • Tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư, hợp tác kinh doanh và thương mại quốc tế….

1.2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại (Khoản 2 Điều 2 LTTTM 2010)

Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên thiết lập quan hệ với cá nhân hành nghề độc lập, tổ chức xã hội, nhà đầu tư, chuyên gia tư vấn hoặc các chủ thể không đăng ký kinh doanh nhưng vẫn tham gia vào các giao dịch mang bản chất thương mại. Trên cơ sở đó, các dạng tranh chấp sau đây có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài hợp lệ:

  • Tranh chấp giữa doanh nghiệp với cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng;
  • Tranh chấp giữa doanh nghiệp với tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp hoặc tổ chức phi lợi nhuận khi tham gia giao dịch có mục đích kinh tế;
  • Tranh chấp giữa nhà đầu tư với đơn vị cung ứng dịch vụ trong quá trình triển khai hoạt động đầu tư;
  • Tranh chấp giữa công ty với cổ đông, thành viên góp vốn hoặc người quản lý doanh nghiệp trong những trường hợp pháp luật cho phép và các bên có thỏa thuận trọng tài.

Quy định nêu trên phản ánh xu hướng hiện đại của pháp luật trọng tài quốc tế, theo đó trọng tâm của việc xác định thẩm quyền không còn đặt nặng vào tư cách pháp lý của chủ thể tham gia quan hệ mà tập trung vào tính chất thương mại của giao dịch và quyền tự do thỏa thuận lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp của các bên. Điều này góp phần mở rộng khả năng tiếp cận trọng tài, tăng tính linh hoạt cho môi trường kinh doanh và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

1.3. Tranh chấp khác được pháp luật chuyên ngành cho phép giải quyết bằng trọng tài (Khoản 3 Điều 2 LTTTM 2010)

Quy định này thể hiện định hướng mở rộng phạm vi áp dụng của trọng tài theo hướng tiệm cận với thông lệ quốc tế, đồng thời tạo điều kiện để các luật chuyên ngành linh hoạt xác định những loại tranh chấp phù hợp với cơ chế giải quyết ngoài Tòa án. Có thể đề cập đến các tranh chấp như:

(i) Tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh:

Luật Đầu tư năm 2025 có quy định riêng tại Điều 13 để nêu rõ phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh. Trong đó, trọng tài là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; giải quyết tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam hay tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 20 của Luật Đầu tư.

Đối với tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam, ngoài Tòa án thì tranh chấp này cũng được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

(ii) Tranh chấp về sở hữu trí tuệ

Tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có sửa đổi, bổ sung cũng có quy định khởi kiện ra trọng tài cũng là một phương thức để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Có thể là các dạng tranh chấp sau:

  • Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu;
  • Tranh chấp hợp đồng cấp phép sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan hoặc quyền sở hữu công nghiệp;
  • Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán tiền bản quyền, phí li-xăng;
  • Tranh chấp về phạm vi sử dụng và nghĩa vụ khai thác quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, cần phân biệt, những tranh chấp liên quan đến quyết định hành chính về việc xác lập, hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ không thuộc thẩm quyền của trọng tài mà thuộc cơ chế hành chính hoặc tố tụng tại Tòa án theo quy định pháp luật chuyên ngành.

(iii) Tranh chấp nội bộ doanh nghiệp

Tranh chấp phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp cũng là một dạng tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài, ví dụ như:  

  • Tranh chấp về việc thực hiện thỏa thuận cổ đông;
  • Tranh chấp quyền ưu tiên mua cổ phần;
  • Tranh chấp chuyển nhượng phần vốn góp;
  • Tranh chấp nghĩa vụ góp vốn và phân chia quyền quản lý;
  • Tranh chấp giữa thành viên công ty liên quan đến quyền và lợi ích tài sản.

2. Những tranh chấp kinh doanh thương mại không thể đưa ra trọng tài

Trọng tài thương mại về bản chất là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các bên, do đó thẩm quyền của trọng tài luôn bị giới hạn bởi các điều kiện luật định. Trên phương diện pháp lý, một số nhóm tranh chấp thường bị loại trừ khỏi phạm vi giải quyết của trọng tài bao gồm:

Thứ nhất, các tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài

Đây là điều kiện tiên quyết, trong trường hợp hợp đồng không có điều khoản trọng tài hoặc các bên không xác lập thỏa thuận trọng tài độc lập, tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Thứ hai, tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của cơ quan nhà nước

  • Tranh chấp phá sản;
  • Hủy bỏ đăng ký doanh nghiệp;
  • Khiếu kiện hành chính;
  • Hủy quyết định cấp văn bằng bảo hộ;
  • Một số tranh chấp lao động cá nhân.

Thứ ba, tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận đó vô hiệu

Trong thực tiễn, một số căn cứ phổ biến dẫn đến sự vô hiệu của thỏa thuận trọng tài bao gồm:

3. Kết luận

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại được xác lập theo hướng mở rộng, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, bao gồm không chỉ các tranh chấp phát sinh trực tiếp từ hoạt động thương mại mà còn cả những tranh chấp liên quan đến mục đích sinh lợi hoặc được pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài.

Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng và phức tạp, việc lựa chọn trọng tài không đơn thuần là lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp mà còn là công cụ quản trị rủi ro pháp lý hiệu quả, góp phần bảo đảm tính bảo mật, linh hoạt và ổn định trong quan hệ thương mại. Do đó, việc xác định đúng phạm vi thẩm quyền của trọng tài có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và tính pháp lý của phán quyết trọng tài trong thực tiễn áp dụng.

 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

Tin liên quan

XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH ĐƯƠNG SỰ CỦA CÁC BÊN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỰC TIỄN
19 06/2026

XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH ĐƯƠNG SỰ CỦA CÁC BÊN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỰC TIỄN

Việc xác định đúng tư cách đương sự là một trong những điều kiện bảo đảm tính hợp pháp của quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nếu chủ thể không có quyền, nghĩa vụ trong quan hệ tranh chấp bị xác định là bị đơn hoặc nguyên đơn không phù hợp thì có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tranh tụng của các bên, đồng thời trở thành căn cứ để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (“Luật TTTM”).

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THỂ HIỆN TRONG QUYẾT ĐỊNH SỐ 1062/2022/QĐ-PQTT NGÀY 14/7/2022 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
16 06/2026

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THỂ HIỆN TRONG QUYẾT ĐỊNH SỐ 1062/2022/QĐ-PQTT NGÀY 14/7/2022 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phân tích Quyết định 1062/2022/QĐ-PQTT của TAND TP.HCM về việc hủy phán quyết trọng tài do vi phạm thủ tục tố tụng và nguyên tắc pháp luật Việt Nam.

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG