Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THỂ HIỆN TRONG QUYẾT ĐỊNH SỐ 1062/2022/QĐ-PQTT NGÀY 14/7/2022 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

16/06/2026

Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Y đã giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng Hợp tác đầu tư số 06/06/2019 ngày 06/6/2019 giữa Nguyên đơn là Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Du lịch Quảng cáo Khách sạn T (gọi tắt là “Công ty T”) và Bị đơn là Công ty Cổ phần Địa ốc P (gọi tắt là “Công ty P”).

Sau đó, Nguyên đơn là Công ty T đã khiếu nại đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài với lý do: Hội đồng Trọng tài vi phạm thủ tục tố tụng khi vẫn giải quyết yêu cầu của Nguyên đơn trong khi Nguyên đơn vắng mặt; Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Nguyên đơn cho rằng Hội đồng Trọng tài đã vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài khi vẫn xem xét và giải quyết các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn mặc dù Nguyên đơn vắng mặt tại Phiên họp. Theo Nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Trọng tài thương mại 2010 (“Luật TTTM”) và khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 29 Quy tắc tố tụng của Trung tâm Trọng tài Y, trường hợp này phải được coi là rút đơn khởi kiện và Hội đồng Trọng tài lẽ ra phải đình chỉ giải quyết.

Thứ hai, Nguyên đơn cho rằng Hợp đồng Hợp tác đầu tư số 06/06/2019 ngày 06/6/2019 vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Cụ thể, quyền sử dụng đất dùng để góp vốn vẫn thuộc ông Lê TT và chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính tại thời điểm ký kết, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai 2013 (sửa đổi, bổ sung 2018). Theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật là vô hiệu. Do đó, Nguyên đơn cho rằng việc Hội đồng Trọng tài vẫn công nhận Hợp đồng hợp tác và buộc Nguyên đơn thanh toán cho Bị đơn là trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Hội đồng xét đơn thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là “Hội đồng xét đơn”) nhận thấy:

Thứ nhất, đối với yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài vì Nguyên đơn cho rằng Hội đồng Trọng tài đã vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài khi vẫn xem xét và giải quyết các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn mặc dù Nguyên đơn vắng mặt tại Phiên họp. Theo khoản 1 Điều 56 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định và theo khoản 1 Điều 32 Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài Y: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận thì bị coi là đã rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết tranh chấp nếu bị đơn có yêu cầu hoặc có đơn kiện lại.”

Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 29 Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài Y quy định: “Nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc được coi là đã rút đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Quy tắc này...” thì Hội đồng Trọng tài phải đình chỉ giải quyết Vụ tranh chấp.

Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, lẽ ra Hội đồng Trọng tài phải đình chỉ giải quyết các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Tuy nhiên, Phán quyết trọng tài của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài Y vẫn xem xét và quyết định: “(1) Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố Hợp đồng Hợp tác đầu tư số 06/06/2019 vô hiệu toàn bộ; (2) Không chấp nhận yêu cầu hoàn trả 40.000.000.000 đồng cho Công ty P”, là trái với quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 và Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài Y.

Thứ hai, đối với lý do Nguyên đơn cho rằng Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Hội đồng xét đơn nhận thấy: Tại thời điểm ký Hợp đồng ngày 06/6/2019, quyền sử dụng đất được Công ty T đưa vào góp vốn thực chất vẫn thuộc ông Lê TT, và ông này chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Theo khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền góp vốn sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Do đó, việc góp vốn trong trường hợp này là vi phạm điều cấm của pháp luật.

Căn cứ Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật thì vô hiệu. Do đó, Hợp đồng hợp tác đầu tư số 06/06/2019 vì vậy không có giá trị pháp lý. Như vậy, Hội đồng xét đơn nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét đơn kết luận: Phán quyết Trọng tài của Trung tâm trọng tài Y đã vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài và trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, thuộc trường hợp hủy phán quyết trọng tài theo điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Căn cứ theo quy định pháp luật và tình hình thực tế Vụ tranh chấp, Hội đồng xét đơn nhận định: Phán quyết Trọng tài của Trung tâm trọng tài Y đã vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài và trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, thuộc trường hợp hủy phán quyết trọng tài theo điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010. Vì vậy, yêu cầu huỷ Phán quyết Trọng tài của Nguyên đơn có cơ sở để Hội đồng Trọng tài chấp nhận.

 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "Những vấn đề về trọng tài thương mại thể hiện trong Quyết định số 1062/2022/QĐ-PQTT ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

 

Tin liên quan

BỊ ĐƠN “IM LẶNG” TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: CÓ MẤT QUYỀN TỰ BẢO VỆ KHÔNG?
12 06/2026

BỊ ĐƠN “IM LẶNG” TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: CÓ MẤT QUYỀN TỰ BẢO VỆ KHÔNG?

Bị đơn "im lặng" trong tố tụng trọng tài thương mại có mất quyền tự bảo vệ? Tìm hiểu ngay hệ quả pháp lý và rủi ro thực tế theo Luật Trọng tài thương mại.

PHÍ TRỌNG TÀI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: NHỮNG VẤN ĐỀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT
10 06/2026

PHÍ TRỌNG TÀI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: NHỮNG VẤN ĐỀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT

Khi cân nhắc lựa chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp, nhiều doanh nghiệp thường đặt ra câu hỏi: Chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có cao không? Ai là người phải chịu phí trọng tài? Phí trọng tài được xác định như thế nào? Phí trọng tài là khoản chi phí mà các bên phải chi trả để phục vụ quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tùy theo tính chất của vụ việc và quy định của từng Trung tâm trọng tài, các khoản phí này có thể có sự khác nhau.

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG