Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00
|Email: contact@mcac.vn
|Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799
| Ngôn ngữ:Điện thoại: 0935 925 068
12/08/2026
Trong tố tụng trọng tài, Bị đơn không chỉ có quyền trình bày ý kiến tự bảo vệ đối với yêu cầu của Nguyên đơn mà còn có quyền kiện lại Nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, một yêu cầu độc lập của Bị đơn chỉ có cơ sở được Hội đồng Trọng tài xem xét, giải quyết khi được đưa ra đúng hình thức và đúng thủ tục của đơn kiện lại.
Quyết định số 07/2017/QĐ-PQTT của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là một ví dụ thực tiễn đáng chú ý về hệ quả của việc Bị đơn nêu yêu cầu bồi thường trong Bản tự bảo vệ nhưng không lập Đơn kiện lại.

1. Tóm tắt vụ việc
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tỉnh L (Nguyên đơn) và Công ty G (Bị đơn) ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 20/01/2000 để thành lập và kinh doanh cửa hàng miễn thuế tại khu vực cửa khẩu quốc tế L C, tỉnh Lào Cai.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Nguyên đơn cho rằng Bị đơn vi phạm nghĩa vụ cung cấp hàng hóa, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của cửa hàng. Nguyên đơn khởi kiện tại Trung tâm trọng tài X, yêu cầu:
Bị đơn không thừa nhận hành vi vi phạm. Trong Bản tự bảo vệ và tại phiên họp giải quyết tranh chấp, Bị đơn đề nghị:
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng Trọng tài không xem xét các yêu cầu trên vì đây là những yêu cầu độc lập nhưng Bị đơn không lập và nộp Đơn kiện lại.
Hội đồng Trọng tài sau đó ban hành Phán quyết trọng tài số 29/16, chấp nhận yêu cầu chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh, không chấp nhận yêu cầu bồi thường 181.398.000 đồng của Nguyên đơn và quyết định về phí trọng tài.
2. Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài X đã giải quyết tranh chấp Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Công Ty Cổ Phần xuất nhập khẩu tỉnh L (Nguyên đơn) và Công ty G (Bị đơn).
Bị đơn khiếu nại đối với Quyết định của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài X đến Tòa án có thẩm quyền. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã thụ lý đơn yêu cầu và thành lập Hội đồng xét đơn để giải quyết yêu cầu của Bị đơn.
Trong đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài, Bị đơn cho rằng việc Hội đồng trọng tài chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bên liên quan (Nguyên đơn) về việc chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh mà không xem xét đến hậu quả pháp lý của việc chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh là không đảm bảo khách quan khi giải quyết vụ án, áp dụng pháp luật tùy tiện, vi phạm thủ tục tố tụng, trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội có thẩm quyền nhận định: Bên yêu cầu huỷ Phán quyết trọng tài (Bị đơn - Công ty G) chưa có Đơn kiện lại. Do đó, yêu cầu huỷ Phán quyết trọng tài của Công ty G là không có cơ sở để chấp nhận.
3. Nội dung bình luận
Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: “Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp”.
Tại phiên họp giải quyết tranh chấp, Bên liên quan (Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tỉnh L) giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trong Đơn khởi kiện ngày 09/9/2016, yêu cầu chấm dứt Hợp đồng đã ký với Bên yêu cầu.
Liên quan đến việc Bên yêu cầu yêu cầu Bên liên quan phải chịu các chi phí phát sinh và bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm Hợp đồng với số tiền 10.367.755.622 đồng, Bên liên quan đề nghị Hội đồng Trọng tài không xem xét vì đây là yêu cầu độc lập với các yêu cầu khởi kiện của Bên liên quan, trong khi Bên yêu cầu không nộp Đơn kiện lại.
Trong vụ tranh chấp trên, Bên yêu cầu (Công ty G) cho rằng: “Quyết định của Hội đồng trọng tài lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bên liên quan về việc chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh mà không xem xét đến hậu quả pháp lý của việc chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh”.
Theo đó, Bên yêu cầu đề nghị Hội đồng Trọng tài xem xét hậu quả của việc chấm dứt Hợp đồng. Tuy nhiên, nội dung Bên yêu cầu đưa ra không chỉ nhằm bác yêu cầu chấm dứt Hợp đồng của Bên liên quan mà còn bao gồm yêu cầu độc lập về việc giải quyết các chi phí và thiệt hại phát sinh từ việc chấm dứt Hợp đồng.
Hội đồng xét đơn bác đề nghị của Bên yêu cầu dựa trên căn cứ sau: “Bên yêu cầu chưa kiện lại Bên liên quan về yêu cầu giải quyết thiệt hại nếu chấm dứt hợp đồng, do vậy không có căn cứ để Hội đồng xét đơn xem xét yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài của Bên yêu cầu do Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của Việt Nam”.
Đồng thời, Trung tâm trọng tài X đã trao đổi ý kiến với Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội liên quan đến việc kiện lại của Bị đơn. Theo đó, Điều 9 Quy tắc Tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài X áp dụng cho vụ tranh chấp quy định Bị đơn có quyền kiện lại Nguyên đơn; Đơn kiện lại phải được gửi tới Trung tâm cùng thời điểm gửi Bản tự bảo vệ và phải thể hiện đầy đủ những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 9 Quy tắc Tố tụng trọng tài.
Từ những căn cứ pháp lý trên, Hội đồng xét đơn kết luận không chấp nhận yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 29/16 ngày 16/01/2016 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài X.
Khoản 1 Điều 36 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp”. Khoản 4 Điều 36 Luật này cũng quy định: “Việc giải quyết đơn kiện lại do Hội đồng trọng tài giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn thực hiện theo quy định của Luật này về trình tự, thủ tục giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn” [2]. Các quy định trên không chỉ ghi nhận quyền kiện lại của Bị đơn mà còn đặt ra những điều kiện đối với việc thực hiện quyền này. Theo đó, yêu cầu kiện lại phải có liên quan đến vụ tranh chấp và thuộc phạm vi thỏa thuận trọng tài.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 36 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Đơn kiện lại của bị đơn phải được gửi cho Trung tâm trọng tài. Trong trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, đơn kiện lại phải gửi cho Hội đồng trọng tài và nguyên đơn. Đơn kiện lại phải được nộp cùng thời điểm nộp bản tự bảo vệ”.
Khoản 1 Điều 10 Quy tắc Tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung (MCAC) cũng quy định: “Bị đơn có quyền kiện lại Nguyên đơn. Đơn kiện lại phải căn cứ vào thỏa thuận trọng tài mà dựa vào đó Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn. Đơn kiện lại phải bằng văn bản riêng, độc lập với Bản tự bảo vệ. Đơn kiện lại phải được gửi tới Trung tâm vào cùng thời điểm gửi Bản tự bảo vệ” [3].
Căn cứ các quy định trên, Bị đơn có quyền kiện lại Nguyên đơn nhưng Đơn kiện lại phải căn cứ vào thỏa thuận trọng tài mà Nguyên đơn đã dựa vào đó để khởi kiện Bị đơn. Đơn kiện lại phải được lập bằng văn bản riêng, độc lập với Bản tự bảo vệ và gửi tới Trung tâm trọng tài cùng thời điểm gửi Bản tự bảo vệ. Yêu cầu kiện lại có thể phát sinh từ cùng quan hệ pháp luật hoặc các tình tiết được nêu trong Đơn khởi kiện của Nguyên đơn, nhưng vẫn phải có liên quan đến vụ tranh chấp và thuộc phạm vi thỏa thuận trọng tài. Vì vậy, Bị đơn phải lập Đơn kiện lại và gửi cho tổ chức trọng tài theo đúng trình tự, thủ tục áp dụng.
Như vậy, nếu muốn Hội đồng Trọng tài giải quyết một yêu cầu độc lập đối với Nguyên đơn, Bị đơn phải thể hiện yêu cầu đó trong Đơn kiện lại. Trường hợp Bị đơn chỉ nêu yêu cầu độc lập trong Bản tự bảo vệ hoặc tại phiên họp nhưng không lập, nộp Đơn kiện lại theo đúng thủ tục, Hội đồng Trọng tài không có cơ sở thụ lý và giải quyết yêu cầu đó như một yêu cầu kiện lại.
Theo diễn biến vụ tranh chấp, Hội đồng Trọng tài khẳng định: “Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp số 29/16, Hội đồng trọng tài không nhận được bất kỳ Đơn kiện lại nào của Bên yêu cầu về việc đề nghị Hội đồng trọng tài xem xét, giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng”.
Hội đồng xét đơn của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cho rằng: “Bên yêu cầu chưa kiện lại Bên liên quan về yêu cầu giải quyết thiệt hại nếu chấm dứt hợp đồng, do vậy không có căn cứ để Hội đồng xét đơn xem xét yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài của Bên yêu cầu do Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của Việt Nam”.
Như vậy, để yêu cầu độc lập được xem xét, Bị đơn phải lập và nộp Đơn kiện lại. Tuy nhiên, trong vụ việc này, Bên yêu cầu không gửi Đơn kiện lại đề nghị Hội đồng Trọng tài xem xét, giải quyết hậu quả của việc chấm dứt Hợp đồng. Do đó, Hội đồng Trọng tài không có cơ sở giải quyết các yêu cầu này như những yêu cầu kiện lại của Bị đơn.
Hướng giải quyết của Hội đồng Trọng tài và Hội đồng xét đơn là phù hợp với diễn biến vụ tranh chấp và quy định của pháp luật. Kiện lại trong tố tụng trọng tài có tính chất tương đồng với yêu cầu phản tố trong tố tụng Tòa án và là một quyền tố tụng quan trọng của Bị đơn. Vì vậy, Bị đơn cần nắm vững các quy định về hình thức, nội dung và thời hạn nộp Đơn kiện lại để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
4. Kết luận
Đơn kiện lại là quyền tố tụng của Bị đơn, cho phép Bị đơn chủ động đưa ra yêu cầu độc lập đối với Nguyên đơn trong cùng một vụ tranh chấp. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện về phạm vi yêu cầu, thỏa thuận trọng tài, hình thức của Đơn kiện lại, thời điểm nộp đơn và trình tự, thủ tục theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và quy tắc tố tụng trọng tài áp dụng.
Từ Quyết định số 07/2017/QĐ-PQTT có thể thấy rằng, trường hợp Bị đơn chỉ nêu yêu cầu độc lập trong Bản tự bảo vệ hoặc trình bày tại phiên họp nhưng không lập và nộp Đơn kiện lại theo đúng thủ tục, Hội đồng Trọng tài không có cơ sở thụ lý và giải quyết yêu cầu đó với tư cách là yêu cầu kiện lại. Do đó, việc xác định chính xác yêu cầu, lập Đơn kiện lại đầy đủ và thực hiện đúng thời hạn có ý nghĩa trực tiếp trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn trong tố tụng trọng tài.
[1] Quyết định số 07/2017/QĐ-PQTT ngày 18/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
[2] Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12
[3] Quy tắc Tố tụng trọng tài của MCAC
Bài viết trên đã phân tích chi tiết về "NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI: ĐƠN KIỆN LẠI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI - QUYẾT ĐỊNH SỐ 07/2017/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỀ VIỆC KHÔNG HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Theo pháp luật Việt Nam, sự hiện diện của điều khoản trọng tài trong hợp đồng không phải là điều kiện tiên quyết để xác lập thẩm quyền của trọng tài. Thay vào đó, thẩm quyền của trọng tài được xác định trên cơ sở sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài hợp pháp giữa các bên. Thỏa thuận này có thể được xác lập trước hoặc sau thời điểm phát sinh tranh chấp. Do đó, việc hợp đồng không quy định điều khoản trọng tài không đồng nghĩa với việc tranh chấp bắt buộc phải được giải quyết tại Tòa án; nếu các bên sau đó đạt được thỏa thuận trọng tài hợp pháp theo quy định của pháp luật thì tranh chấp vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại.
Phiên họp giải quyết tranh chấp là giai đoạn quan trọng để các bên trực tiếp trình bày quan điểm, làm rõ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kiện lại, ý kiến tự bảo vệ và giải trình về tài liệu, chứng cứ trước Hội đồng Trọng tài. Để việc tham gia phiên họp đạt hiệu quả và hạn chế rủi ro pháp lý, các bên cần lưu ý những nội dung sau đây.