Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00
|Email: contact@mcac.vn
|Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799
| Ngôn ngữ:Điện thoại: 0935 925 068
11/09/2026
Thỏa thuận trọng tài là căn cứ để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Theo Luật Trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh và phải được thể hiện dưới hình thức phù hợp với quy định pháp luật.
Quyết định số 1185/2022/QĐ-PQTT ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp liên quan đến việc xác định thỏa thuận trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp và quyền phản đối của các bên đối với thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài.

1. Nội dung vụ việc
Công ty T (Chủ đầu tư) và Công ty Cổ phần Tập đoàn Xây dựng H (Nhà thầu) ký kết bốn hợp đồng thi công xây dựng. Trong hai hợp đồng, các bên thỏa thuận tranh chấp sẽ được giải quyết tại "Ban trọng tài kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh" – một thỏa thuận trọng tài mà tại thời điểm phát sinh tranh chấp không thể thực hiện được vì không thể xác định tổ chức trọng tài cụ thể.
Ngày 26/10/2021, Công ty H có văn bản đề nghị Công ty T thống nhất lựa chọn một Trung tâm trọng tài khác, đồng thời ấn định thời hạn phản hồi 07 ngày. Công ty T không có ý kiến phản hồi.
Ngày 10/11/2021, Công ty H khởi kiện Công ty T tại Trung tâm trọng tài do mình lựa chọn, yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi chậm thanh toán phát sinh từ bốn hợp đồng thi công. Trong suốt quá trình tố tụng, Công ty T tham gia giải quyết vụ tranh chấp và không phản đối thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài; tại phiên họp giải quyết tranh chấp, đại diện Công ty T còn xác nhận không phản đối hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, thành phần Hội đồng Trọng tài và trình tự tố tụng đã tiến hành.
Ngày 18/3/2022, Hội đồng Trọng tài ra phán quyết chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty H.
2. Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Sau khi phán quyết trọng tài được ban hành, Công ty T nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ phán quyết trọng tài nêu trên.
Công ty T cho rằng thỏa thuận trọng tài giữa các bên là thỏa thuận không thể thực hiện được, do tổ chức trọng tài mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức kế thừa. Theo Công ty T, khi các bên không thỏa thuận được về tổ chức trọng tài khác thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải thuộc về Tòa án; việc Hội đồng Trọng tài vẫn thụ lý và giải quyết vụ việc theo đề nghị lựa chọn tổ chức trọng tài của Công ty H (nguyên đơn) là giải quyết không đúng thẩm quyền.
Trên cơ sở đó, Công ty T đề nghị Tòa án hủy phán quyết trọng tài theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại về trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.
3. Nội dung bình luận
Nhận định của Tòa án trong Quyết định số 1185/2022/QĐ-PQTT xoay quanh ba căn cứ pháp lý.
Thứ nhất, khoản 5 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại quy định trường hợp các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể thì các bên phải thỏa thuận lại; nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn tổ chức trọng tài được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn. Việc Công ty T không phản hồi đề nghị của Công ty H trong thời hạn đã ấn định được Tòa án xem là biểu hiện của việc "không thỏa thuận được", làm phát sinh quyền lựa chọn tổ chức trọng tài của Công ty H với tư cách nguyên đơn.
Thứ hai, điểm đ khoản 2 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại công nhận một hình thức xác lập thỏa thuận trọng tài bằng văn bản là qua trao đổi mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Trên cơ sở này, Tòa án xem việc Công ty T không phản đối tổ chức trọng tài do Công ty H lựa chọn, kết hợp với việc tiếp tục tham gia tố tụng, là căn cứ xác lập thỏa thuận trọng tài giữa hai bên.
Thứ ba, Điều 13 Luật Trọng tài thương mại quy định về mất quyền phản đối: một bên biết có vi phạm nhưng vẫn tiếp tục tham gia tố tụng trọng tài mà không phản đối trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án. Việc đại diện Công ty T xác nhận tại phiên họp không có ý kiến phản đối về hiệu lực thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài và trình tự tố tụng là cơ sở để Tòa án xác định Công ty T đã mất quyền viện dẫn lại các vấn đề này khi yêu cầu hủy phán quyết.
Từ ba căn cứ nêu trên, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gắn liền với diễn biến thực tế của quá trình tố tụng: việc một bên im lặng trước đề nghị lựa chọn tổ chức trọng tài, sau đó tiếp tục tham gia tố tụng mà không bảo lưu ý kiến phản đối, được Tòa án nhìn nhận như một chuỗi hành vi thể hiện sự chấp nhận thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, phù hợp với các quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài và về hậu quả của việc mất quyền phản đối trong Luật Trọng tài thương mại.
4. Nhận định của Tòa án
Tòa án xác định thỏa thuận trọng tài dẫn chiếu "Ban trọng tài kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh" tại các hợp đồng liên quan là thỏa thuận không thể thực hiện được. Sau khi Công ty H đề nghị lựa chọn tổ chức trọng tài khác và ấn định thời hạn phản hồi 07 ngày, Công ty T không phản hồi trong thời hạn này. Tòa án nhận định đây là căn cứ cho thấy các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn tổ chức trọng tài, nên áp dụng khoản 5 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại, theo đó việc lựa chọn tổ chức trọng tài được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa án cũng ghi nhận khi Công ty H thông báo việc khởi kiện và lựa chọn tổ chức trọng tài, Công ty T không phản đối và cũng không đề xuất tổ chức trọng tài nào khác; trong suốt quá trình tố tụng, Công ty T không phản đối thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài. Trên cơ sở điểm đ khoản 2 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại, Tòa án xác định việc Công ty T không phản đối được xem là đã đồng ý xác lập thỏa thuận trọng tài với Công ty H.
Đồng thời, tại biên bản phiên họp giải quyết tranh chấp, đại diện Công ty T đã xác nhận không có ý kiến phản đối về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, thành phần và thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, cũng như trình tự tố tụng đã tiến hành. Do đó, Tòa án xác định Công ty T đã mất quyền phản đối theo Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Trên cơ sở đó, Tòa án quyết định không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty T; Công ty T không phải chịu lệ phí. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, là quyết định cuối cùng.
[1] Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Điều 13, Điều 16, khoản 5 Điều 43 và điểm c khoản 2 Điều 68.
[2] Quyết định số 1185/2022/QĐ-PQTT ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "THỎA THUẬN TRỌNG TÀI PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 1185/2022/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "THỎA THUẬN TRỌNG TÀI PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 1185/2022/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Quyết định số 810/2017/QĐ-PQTT ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp thực tiễn đáng chú ý. Mặc dù người ký hợp đồng phía Bị đơn không phải là người đại diện theo pháp luật, Tòa án vẫn xác định thỏa thuận trọng tài có hiệu lực trên cơ sở quá trình thực hiện hợp đồng và thái độ của người có thẩm quyền đối với giao dịch đã được xác lập.
Doanh nghiệp có được tự ý ghi âm, ghi hình phiên họp trọng tài? Bài viết phân tích quy định của Luật Trọng tài thương mại và Quy tắc MCAC về tính không công khai, quyền ghi âm, ghi hình, giá trị chứng cứ và những rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý.