Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

HỢP ĐỒNG KHÔNG CÓ ĐIỀU KHOẢN TRỌNG TÀI: TRANH CHẤP VẪN CÓ THỂ GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI?

10/08/2026

Theo pháp luật Việt Nam, sự hiện diện của điều khoản trọng tài trong hợp đồng không phải là điều kiện tiên quyết để xác lập thẩm quyền của trọng tài. Thay vào đó, thẩm quyền của trọng tài được xác định trên cơ sở sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài hợp pháp giữa các bên. Thỏa thuận này có thể được xác lập trước hoặc sau thời điểm phát sinh tranh chấp. Do đó, việc hợp đồng không quy định điều khoản trọng tài không đồng nghĩa với việc tranh chấp bắt buộc phải được giải quyết tại Tòa án; nếu các bên sau đó đạt được thỏa thuận trọng tài hợp pháp theo quy định của pháp luật thì tranh chấp vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại.

1. Cơ sở pháp lý

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010):  "Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp."

Khoa học pháp lý phân chia thỏa thuận trọng tài thành 02 dạng chính dựa trên thời điểm và cách thức xác lập:

  1. Điều khoản trọng tài: Được ghi nhận trực tiếp trong hợp đồng gốc từ thời điểm ký kết (khi tranh chấp chưa phát sinh).
  2. Thỏa thuận trọng tài riêng biệt: Được lập độc lập với hợp đồng chính, thường là sau khi tranh chấp đã phát sinh.

Như vậy, việc hợp đồng không có điều khoản trọng tài không làm mất đi quyền lựa chọn Trọng tài của các bên, miễn là đáp ứng được các điều kiện pháp lý quy định.

Các trường hợp tranh chấp vẫn được giải quyết bằng Trọng tài thương mại khi hợp đồng không có điều khoản trọng tài.

(i). Xác lập thỏa thuận trọng tài sau khi phát sinh tranh chấp

Khi tranh chấp phát sinh, nếu các bên nhận thấy việc giải quyết bằng Trọng tài mang lại nhiều lợi ích như bảo đảm tính bảo mật, thủ tục linh hoạt, thời gian giải quyết nhanh và phán quyết có giá trị chung thẩm, thì các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài bằng cách ký kết một Thỏa thuận trọng tài độc lập. Song để có hiệu lực pháp lý, thỏa thuận này phải được lập dưới hình thức phù hợp với quy định tại Điều 16 LTTTM 2010 (bao gồm cả thư điện tử, fax, telegram, tin nhắn điện tử...).

(ii). Thỏa thuận trọng tài thông qua dẫn chiếu

Điểm d khoản 2 Điều 16 LTTTM 2010 mở rộng phạm vi công nhận thỏa thuận trọng tài bằng việc thừa nhận hiệu lực của điều khoản trọng tài được xác lập thông qua dẫn chiếu. Cách tiếp cận này phản ánh sự linh hoạt của pháp luật trong việc tôn trọng ý chí của các bên, đồng thời đáp ứng thực tiễn giao kết hợp đồng khi các điều khoản tiêu chuẩn thường được quy định trong các tài liệu độc lập thay vì hợp đồng chính. Các tài liệu khác mà ở đó quy định về thỏa thuận trọng tài được dẫn chiếu đến có thể là hợp đồng mẫu, chứng từ, điều lệ công ty,…

(iii). Thỏa thuận trọng tài được xác lập thông qua hành vi tố tụng

Điểm đ khoản 2 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010 ghi nhận thỏa thuận trọng tài được hình thành thông qua hành vi tố tụng. Theo đó, khi nộp đơn khởi kiện tại Trung tâm trọng tài Nguyên đơn viện dẫn sự tồn tại của một thỏa thuận trọng tài hoặc đề xuất giải quyết bằng trọng tài. Sau đó Bị đơn tham gia vào quá trình tố tụng, đồng thời nộp Bản tự bảo vệ trình bày về nội dung vụ tranh chấp nhưng không phản đối/ không phủ nhận thẩm quyền của trọng tài, thì sự im lặng này được xem là sự chấp thuận mặc nhiên đối với thỏa thuận trọng tài. Quy định này phản ánh nguyên tắc tôn trọng ý chí của các bên và hạn chế việc lợi dụng quyền phản đối để kéo dài quá trình giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, cũng có những tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng không được giải quyết bằng Trọng tài thương mại theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại 2010, cụ thể gồm các trường hợp sau:

a) Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;

b) Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 Luật TTTM.

c) Tranh chấp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 4 Nghị quyết này. Cụ thể:

- Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.

- Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

- Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

- Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

2. Kết luận

Điều khoản trọng tài trong hợp đồng không phải là điều kiện duy nhất để tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài thương mại. Điều quan trọng là các bên phải có một thỏa thuận trọng tài hợp pháp, dù được xác lập trước hay sau khi tranh chấp phát sinh. Thỏa thuận này có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như phụ lục hợp đồng, văn bản riêng, email, thư tín hoặc tài liệu được dẫn chiếu theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể hoạt động thương mại, đồng thời tạo điều kiện để các bên lựa chọn một cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng và linh hoạt hơn.

Bài viết trên đã phân tích chi tiết về "HỢP ĐỒNG KHÔNG CÓ ĐIỀU KHOẢN TRỌNG TÀI: TRANH CHẤP VẪN CÓ THỂ GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

Tin liên quan

CÓ ĐƯỢC GIAO NỘP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ SAU THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI HAY KHÔNG?
28 08/2026

CÓ ĐƯỢC GIAO NỘP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ SAU THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI HAY KHÔNG?

Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, không phải lúc nào các bên cũng có thể tập hợp đầy đủ tài liệu, chứng cứ ngay từ đầu. Một số chứng cứ có thể chỉ được phát hiện sau khi đã nộp Đơn khởi kiện, Bản tự bảo vệ hoặc sau thời hạn do Hội đồng Trọng tài ấn định. Khi đó, tài liệu, chứng cứ nộp muộn có còn được xem xét hay không?

NHỮNG KHÁC BIỆT VÀ ƯU ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI SO VỚI TOÀ ÁN MÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT
26 08/2026

NHỮNG KHÁC BIỆT VÀ ƯU ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI SO VỚI TOÀ ÁN MÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT

Tòa án và Trọng tài đều là hình thức giải quyết tranh chấp, giữ vai trò là một bên tài phán đối với các bên trong quan hệ tranh chấp. Kết quả của việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài hay Toà án đều có những giá trị pháp lý như nhau. Thể hiện một số điểm cơ bản như sau:

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG