Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI CÓ ĐƯỢC QUYỀN THU THẬP CHỨNG CỨ HAY CHỈ DỰA TRÊN CHỨNG CỨ DO CÁC BÊN CUNG CẤP?

25/02/2026

Trong tố tụng trọng tài thương mại, chứng cứ là cơ sở để Hội đồng Trọng tài xác định các tình tiết của vụ tranh chấp và đưa ra phán quyết. Một vấn đề thường được đặt ra là liệu Hội đồng Trọng tài có quyền thu thập chứng cứ hay chỉ được xem xét trên cơ sở chứng cứ do các bên cung cấp. Hiện nay, Luật Trọng tài thương mại và quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài tại Việt Nam, trong đó có Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung (MCAC), đã thiết lập các quy định tương đối đầy đủ và cụ thể về thẩm quyền thu thập chứng cứ của Hội đồng Trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp.

1. Nguyên tắc cung cấp chứng cứ trong tố tụng trọng tài

Trọng tài thương mại được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các bên, do đó các bên có quyền và nghĩa vụ chủ động cung cấp chứng cứ nhằm chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình. Nguyên đơn có nghĩa vụ trình bày cơ sở và cung cấp chứng cứ khởi kiện (nếu có) trong đơn khởi kiện. Bị đơn có nghĩa vụ trình bày cơ sở và cung cấp chứng cứ tự bảo vệ (nếu có) trong bản tự bảo vệ. Chứng cứ được sử dụng trong tố tụng trọng tài phải bảo đảm tính khách quan, liên quan và hợp pháp, đồng thời được Hội đồng Trọng tài sử dụng làm căn cứ để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, pháp luật trọng tài không giới hạn vai trò của Hội đồng Trọng tài ở việc thụ động tiếp nhận chứng cứ do các bên xuất trình.

2. Thẩm quyền thu thập chứng cứ của Hội đồng Trọng tài

Theo Điều 46 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Điều 19 Quy tắc Tố tụng của MCAC quy định các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Hội đồng Trọng tài. Đồng thời, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Hội đồng Trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp. Hội đồng trọng tài tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên có quyền trưng cầu giám định, định giá tài sản trong vụ tranh chấp để làm căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp hoặc tham vấn ý kiến chuyên gia. Chi phí phát sinh trong các trường hợp này do bên yêu cầu tạm ứng hoặc do Hội đồng Trọng tài quyết định phân bổ.

Trong trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được (đã áp dụng các biện pháp cần thiết là đã sử dụng mọi cách thức và khả năng cho phép để yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cung cấp cho mình chứng cứ mà vẫn không được cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp) thì có thể gửi văn bản đề nghị Toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ tranh chấp. 

Ngoài ra, Khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Luật TTTM quy định việc Hội đồng Trọng tài, theo yêu cầu của một hoặc các bên, có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu, và/hoặc yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp. Trường hợp người làm chứng đã được Hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp, thì Hội đồng trọng tài gửi văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài.

Như vậy, Luật TTTM không quy định về quyền của một bên yêu cầu bên kia cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp; không quy định về trường hợp mà theo yêu cầu của một bên, Hội đồng Trọng tài sẽ can thiệp và yêu cầu bên kia cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan. Tuy nhiên, Hội đồng Trọng tài không chỉ dựa trên chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng Trọng tài còn có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên thu thập chứng cứ để làm căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp trong phạm vi pháp luật cho phép.

3. Kết luận

Từ các quy định nêu trên có thể thấy rằng, trong tố tụng trọng tài thương mại, Hội đồng Trọng tài không bị giới hạn ở việc xem xét chứng cứ do các bên cung cấp mà còn được pháp luật trao thẩm quyền thu thập chứng cứ trong những trường hợp nhất định, đồng thời có thể yêu cầu sự hỗ trợ của Tòa án khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được. Tuy nhiên, nghĩa vụ chứng minh vẫn chủ yếu thuộc về các bên tranh chấp, do đó việc chủ động chuẩn bị và cung cấp chứng cứ đầy đủ, kịp thời vẫn giữ vai trò quyết định đối với kết quả giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề Hội đồng trọng tài có được quyền thu thập chứng cứ hay chỉ dựa trên chứng cứ do các bên cung cấp?. Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

Tin liên quan

NHỮNG TÀI LIỆU NÀO CẦN GỬI KÈM ĐƠN KHỞI KIỆN TẠI TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI?
14 09/2026

NHỮNG TÀI LIỆU NÀO CẦN GỬI KÈM ĐƠN KHỞI KIỆN TẠI TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI?

Khi khởi kiện tại Trung tâm trọng tài, việc chuẩn bị Đơn khởi kiện là bước khởi đầu quan trọng. Tuy nhiên, Đơn khởi kiện chỉ thể hiện yêu cầu của Nguyên đơn; để Trung tâm trọng tài xem xét thụ lý và Hội đồng Trọng tài có cơ sở giải quyết vụ tranh chấp, Nguyên đơn cần gửi kèm các tài liệu chứng minh thẩm quyền của Trọng tài, quan hệ tranh chấp và căn cứ của từng yêu cầu khởi kiện.

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 1185/2022/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
11 09/2026

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 1185/2022/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thỏa thuận trọng tài là căn cứ để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Theo Luật Trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh và phải được thể hiện dưới hình thức phù hợp với quy định pháp luật. Quyết định số 1185/2022/QĐ-PQTT ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp liên quan đến việc xác định thỏa thuận trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp và quyền phản đối của các bên đối với thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài.

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG