Điện thoại: 0935 925 068
25/02/2026
Trong tố tụng trọng tài thương mại, chứng cứ là cơ sở để Hội đồng Trọng tài xác định các tình tiết của vụ tranh chấp và đưa ra phán quyết. Một vấn đề thường được đặt ra là liệu Hội đồng Trọng tài có quyền thu thập chứng cứ hay chỉ được xem xét trên cơ sở chứng cứ do các bên cung cấp. Hiện nay, Luật Trọng tài thương mại và quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài tại Việt Nam, trong đó có Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung (MCAC), đã thiết lập các quy định tương đối đầy đủ và cụ thể về thẩm quyền thu thập chứng cứ của Hội đồng Trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Trọng tài thương mại được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các bên, do đó các bên có quyền và nghĩa vụ chủ động cung cấp chứng cứ nhằm chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình. Nguyên đơn có nghĩa vụ trình bày cơ sở và cung cấp chứng cứ khởi kiện (nếu có) trong đơn khởi kiện. Bị đơn có nghĩa vụ trình bày cơ sở và cung cấp chứng cứ tự bảo vệ (nếu có) trong bản tự bảo vệ. Chứng cứ được sử dụng trong tố tụng trọng tài phải bảo đảm tính khách quan, liên quan và hợp pháp, đồng thời được Hội đồng Trọng tài sử dụng làm căn cứ để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, pháp luật trọng tài không giới hạn vai trò của Hội đồng Trọng tài ở việc thụ động tiếp nhận chứng cứ do các bên xuất trình.

Theo Điều 46 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Điều 19 Quy tắc Tố tụng của MCAC quy định các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Hội đồng Trọng tài. Đồng thời, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Hội đồng Trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp. Hội đồng trọng tài tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên có quyền trưng cầu giám định, định giá tài sản trong vụ tranh chấp để làm căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp hoặc tham vấn ý kiến chuyên gia. Chi phí phát sinh trong các trường hợp này do bên yêu cầu tạm ứng hoặc do Hội đồng Trọng tài quyết định phân bổ.
Trong trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được (đã áp dụng các biện pháp cần thiết là đã sử dụng mọi cách thức và khả năng cho phép để yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cung cấp cho mình chứng cứ mà vẫn không được cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp) thì có thể gửi văn bản đề nghị Toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ tranh chấp.
Ngoài ra, Khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Luật TTTM quy định việc Hội đồng Trọng tài, theo yêu cầu của một hoặc các bên, có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu, và/hoặc yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp. Trường hợp người làm chứng đã được Hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp, thì Hội đồng trọng tài gửi văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài.
Như vậy, Luật TTTM không quy định về quyền của một bên yêu cầu bên kia cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp; không quy định về trường hợp mà theo yêu cầu của một bên, Hội đồng Trọng tài sẽ can thiệp và yêu cầu bên kia cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan. Tuy nhiên, Hội đồng Trọng tài không chỉ dựa trên chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng Trọng tài còn có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên thu thập chứng cứ để làm căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp trong phạm vi pháp luật cho phép.
Từ các quy định nêu trên có thể thấy rằng, trong tố tụng trọng tài thương mại, Hội đồng Trọng tài không bị giới hạn ở việc xem xét chứng cứ do các bên cung cấp mà còn được pháp luật trao thẩm quyền thu thập chứng cứ trong những trường hợp nhất định, đồng thời có thể yêu cầu sự hỗ trợ của Tòa án khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được. Tuy nhiên, nghĩa vụ chứng minh vẫn chủ yếu thuộc về các bên tranh chấp, do đó việc chủ động chuẩn bị và cung cấp chứng cứ đầy đủ, kịp thời vẫn giữ vai trò quyết định đối với kết quả giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề Hội đồng trọng tài có được quyền thu thập chứng cứ hay chỉ dựa trên chứng cứ do các bên cung cấp?. Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Các bên có quyền đề nghị gia hạn thời hạn tố tụng trọng tài trong trường hợp nào? Phân tích cơ sở pháp lý theo Luật TTTM 2010 và thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài.
Quy định pháp luật về yêu cầu thay đổi Trọng tài viên trong tố tụng trọng tài thương mại và thẩm quyền quyết định theo Luật Trọng tài và Quy tắc MCAC.