Điện thoại: 0935 925 068
09/03/2026
Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên là yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài. Trên thực tế, trong thời gian tranh chấp đang được giải quyết, có thể phát sinh những tình huống mà nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì tài sản tranh chấp có nguy cơ bị tẩu tán, thay đổi hiện trạng hoặc các hành vi của một bên có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến quá trình giải quyết vụ tranh chấp.
Nhằm xử lý những tình huống này, pháp luật trọng tài thương mại đã thiết lập cơ chế áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Hiện nay, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài, trong đó có Quy tắc Tố tụng của Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung (MCAC) đã có những quy định cụ thể về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp này.
Theo quy định tại Điều 48 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại và Quy tắc tố tụng MCAC, Hội đồng trọng tài có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của các bên trong tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tranh chấp, ngừng hành vi gây thiệt hại hoặc ngăn ngừa tình huống xấu xảy ra trước khi có phán quyết cuối cùng của trọng tài.
Hội đồng trọng tài có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm:
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
- Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
- Kê biên tài sản đang tranh chấp;
- Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
- Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
Trong trường hợp Hội đồng trọng tài chưa được thành lập hoặc một trong các bên tranh chấp yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì lúc này Tòa án sẽ có thẩm quyền và được xác định như sau: nếu các bên trong tranh chấp đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa án cụ thể để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Tòa án có thẩm quyền sẽ là Tòa án mà các bên đã chọn. Trường hợp các bên không có thỏa thuận, thẩm quyền sẽ thuộc về Tòa án nơi cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trường hợp Hội đồng trọng tài đã nhận được yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời từ một bên, và sau đó có yêu cầu trùng lặp gửi đến Tòa án, thì Tòa án buộc phải từ chối và trả lại yêu cầu này, trừ khi nội dung yêu cầu đó vượt ra ngoài phạm vi thẩm quyền giải quyết của Hội đồng trọng tài.
Việc áp dụng các biện pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm rằng tài sản liên quan đến tranh chấp được giữ nguyên trạng và quyền lợi của các bên không bị ảnh hưởng trong thời gian Hội đồng trọng tài xem xét và giải quyết vụ tranh chấp.
Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tại được quy định cụ thể tại Điều 50 Luật Trọng tài thương mại 2010:
Thứ nhất, Bên yêu cầu phải làm đơn để gửi đến Hội đồng trọng tài. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải bao gồm các nội dung chính sau:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của bên có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tên, địa chỉ của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Tóm tắt nội dung tranh chấp;
đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể.
Kèm theo đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bên yêu cầu phải cung cấp cho Hội đồng trọng tài chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.
Thứ hai, theo quyết định của Hội đồng trọng tài, bên có yêu cầu phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấn định tương đương với giá trị thiệt hại có thể xảy ra nếu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá trên sẽ được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng do Hội đồng trọng tài quyết định.
Thứ ba, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, ngay sau khi bên yêu cầu đã hoàn thành việc bảo đảm theo các quy định trên thì Hội đồng trọng tài sẽ xem xét trong việc đưa ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu không chấp nhận yêu cầu, Hội đồng trọng tài vẫn phải thông báo cho bên yêu cầu bằng văn và phải nêu rõ lý do không chấp nhận.
Thứ tư, việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài phải được thực hiện theo luật định về thi hành án dân sự.
Việc cho phép các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần bảo đảm tính hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Cơ chế này không chỉ giúp ngăn ngừa những hành vi có thể gây thiệt hại cho các bên mà còn tạo điều kiện để quá trình tố tụng trọng tài được tiến hành một cách công bằng, khách quan và hiệu quả.
Trong bối cảnh hoạt động thương mại ngày càng phát triển và các tranh chấp thương mại ngày càng đa dạng, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được xem là một công cụ pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại trong thực tiễn.
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "Khi nào các bên có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Tìm hiểu ngay những lợi ích vượt trội của trọng tài thương mại đối với doanh nghiệp: Giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm chi phí và thủ tục linh hoạt.
Hội đồng Trọng tài có được thu thập chứng cứ hay chỉ dựa vào chứng cứ do các bên cung cấp? Phân tích theo Luật Trọng tài thương mại Việt Nam.