Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

TRAO ĐỔI VỀ ĐƠN KHỞI KIỆN VÀ BẢN TỰ BẢO VỆ CÓ THỂ LÀM PHÁT SINH THỎA THUẬN TRỌNG TÀI KHÔNG?

16/07/2026

Thỏa thuận trọng tài là cơ sở xác lập thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài. Trong thực tiễn, thỏa thuận này thường được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận riêng được ký kết trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh.

Tuy nhiên, không ít trường hợp hợp đồng không có điều khoản trọng tài, điều khoản trọng tài không xác định rõ tổ chức trọng tài hoặc phát sinh tranh luận về sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài. Khi đó, một vấn đề pháp lý được đặt ra là: Việc trao đổi Đơn khởi kiện và Bản tự bảo vệ trong quá trình tố tụng có thể làm phát sinh hoặc xác lập thỏa thuận trọng tài hay không?

1. Cơ sở pháp lý

Theo Điều 5 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (“Luật TTTM”), tranh chấp chỉ được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Vì vậy, việc xác định sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết để Hội đồng Trọng tài xác lập thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Khoản 2 Điều 16 Luật TTTM quy định thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới hình thức văn bản. Tại điểm đ khoản 2 Điều này ghi nhận một hình thức đặc biệt của thỏa thuận trọng tài:

“Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận”.

Quy định này cho thấy pháp luật Việt Nam ghi nhận khả năng các bên xác lập hoặc ghi nhận sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài ngay trong quá trình giải quyết tranh chấp thông qua việc trao đổi Đơn khởi kiện và Bản tự bảo vệ.

2. Điều kiện để việc trao đổi Đơn khởi kiện và Bản tự bảo vệ được coi là xác lập thỏa thuận trọng tài

Không phải mọi trường hợp Nguyên đơn nộp Đơn khởi kiện và Bị đơn nộp Bản tự bảo vệ đều làm phát sinh thỏa thuận trọng tài. Để áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 16 Luật TTTM, cần có sự thống nhất ý chí của các bên được thể hiện thông qua quá trình trao đổi văn bản tố tụng.

Trước hết, một bên phải thể hiện rõ sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài. Sự thể hiện này có thể được viện dẫn từ điều khoản trọng tài trong hợp đồng, thư từ, email hoặc các tài liệu khác chứng minh rằng các bên đã lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp. Việc Nguyên đơn đơn phương nộp Đơn khởi kiện tại một Trung tâm Trọng tài, nếu không có căn cứ chứng minh sự đồng thuận của Bị đơn, chưa đủ để xác lập thẩm quyền của trọng tài.

Bên cạnh đó, bên còn lại không được phủ nhận sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên, việc không phủ nhận không chỉ được đánh giá thông qua nội dung của Bản tự bảo vệ mà còn phải xem xét toàn bộ quá trình tham gia tố tụng của Bị đơn. Chẳng hạn, Bị đơn không phản đối thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, tham gia lựa chọn hoặc chỉ định Trọng tài viên, trình bày ý kiến về nội dung tranh chấp, tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp hoặc có các hành vi khác thể hiện sự chấp nhận việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Ngược lại, nếu Bị đơn kịp thời phản đối sự tồn tại, hiệu lực hoặc khả năng thực hiện của thỏa thuận trọng tài thì không thể chỉ căn cứ vào việc Bị đơn đã nộp Bản tự bảo vệ hoặc tham gia tố tụng để kết luận rằng thỏa thuận trọng tài đã được xác lập.

3. Thực tiễn xét xử

Trong một vụ việc Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, các bên ban đầu thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một tổ chức trọng tài. Tuy nhiên, trước thời điểm tranh chấp phát sinh, tổ chức trọng tài này đã chấm dứt hoạt động và không có tổ chức kế thừa.

Sau khi tranh chấp phát sinh, Nguyên đơn đề xuất đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một Trung tâm Trọng tài khác. Trong suốt quá trình tố tụng, Bị đơn không phản đối việc lựa chọn Trung tâm Trọng tài này, không đề nghị lựa chọn tổ chức trọng tài khác, tiếp tục tham gia tố tụng và tại phiên họp còn xác nhận không phản đối thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài.

Sau khi Hội đồng Trọng tài ban hành phán quyết, Bị đơn yêu cầu Tòa án hủy phán quyết với lý do Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Trên cơ sở đánh giá toàn diện quá trình tố tụng và các tài liệu trong hồ sơ vụ việc, Tòa án nhận định rằng việc Nguyên đơn đề xuất giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài mới và việc Bị đơn không phủ nhận, đồng thời tiếp tục tham gia tố tụng mà không phản đối thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, đã thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên về việc lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp. Do đó, Tòa án quyết định các bên đã xác lập thỏa thuận trọng tài theo điểm đ khoản 2 Điều 16 Luật TTTM và không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Vụ việc cho thấy, khi xem xét sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài, Tòa án không chỉ căn cứ vào một văn bản riêng lẻ mà đánh giá tổng thể quá trình trao đổi, nội dung các văn bản tố tụng và hành vi của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp. Qua đó có thể thấy, việc xác định sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào hình thức của một văn bản riêng lẻ mà phụ thuộc vào việc đánh giá tổng thể ý chí của các bên được thể hiện xuyên suốt quá trình tố tụng.[1]

4. Kết luận

Trong những trường hợp nhất định, việc trao đổi Đơn khởi kiện và Bản tự bảo vệ cũng có thể trở thành căn cứ xác lập hoặc ghi nhận sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài nếu đáp ứng các điều kiện quy định nêu trên.

Để hạn chế tranh chấp về thẩm quyền, các bên nên xây dựng điều khoản trọng tài rõ ràng ngay từ khi giao kết hợp đồng, đồng thời thể hiện nhất quán quan điểm của mình trong suốt quá trình tố tụng. Việc phản đối hoặc chấp nhận thẩm quyền trọng tài cần được thể hiện kịp thời, rõ ràng và phù hợp với quy định của Luật Trọng tài thương mại nhằm tránh phát sinh những tranh cãi về sự tồn tại hoặc hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "Trao đổi về Đơn khởi kiện và bản tự bảo vệ có thể làm phát sinh thỏa thuận trọng tài không?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:


[1] https://mcac.vn/thoa-thuan-trong-tai-phat-sinh-trong-qua-trinh-giai-quyet-tranh-chap
 

Tin liên quan

BÊN THUA KIỆN KHÔNG TỰ NGUYỆN THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THÌ PHẢI LÀM GÌ?
14 07/2026

BÊN THUA KIỆN KHÔNG TỰ NGUYỆN THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THÌ PHẢI LÀM GÌ?

Sau khi Hội đồng Trọng tài ban hành Phán quyết trọng tài, các bên có nghĩa vụ tự nguyện thi hành theo đúng nội dung của phán quyết. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp bên phải thi hành chậm trễ hoặc cố tình không thực hiện nghĩa vụ, dẫn đến băn khoăn của nhiều doanh nghiệp: Nếu bên thua kiện không tự nguyện thi hành Phán quyết trọng tài thì bên thắng kiện cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

CÓ ĐƯỢC KHỞI KIỆN LẠI SAU KHI PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI BỊ HỦY KHÔNG?
07 07/2026

CÓ ĐƯỢC KHỞI KIỆN LẠI SAU KHI PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI BỊ HỦY KHÔNG?

Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, có trường hợp Tòa án ra quyết định hủy phán quyết trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (“Luật TTTM”). Khi đó, một trong những vấn đề được các bên đặc biệt quan tâm là liệu tranh chấp có thể được đưa ra giải quyết lại hay không. Vậy sau khi phán quyết trọng tài bị hủy, các bên có còn quyền khởi kiện lại hay không?

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG