Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

HỢP ĐỒNG KÝ ĐIỆN TỬ CÓ ĐIỀU KHOẢN TRỌNG TÀI: THỎA THUẬN TRỌNG TÀI CÓ HỢP LỆ KHÔNG?

12/10/2026

Cùng với sự phát triển của giao dịch điện tử, việc giao kết hợp đồng thương mại thông qua chữ ký điện tử, chữ ký số, thư điện tử hoặc các phương thức điện tử khác ngày càng trở nên phổ biến. Trong các hợp đồng này, các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng.

Vấn đề đặt ra là, trong trường hợp hợp đồng được giao kết bằng phương thức điện tử thay vì được ký trực tiếp trên văn bản giấy, điều khoản trọng tài được ghi nhận trong hợp đồng có đáp ứng yêu cầu về hình thức và có giá trị pháp lý hay không.

1. Hình thức xác lập thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam

Khoản 1 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM) quy định thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức một thỏa thuận riêng.

Khoản 2 Điều 16 LTTTM quy định thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Theo đó, các hình thức sau đây cũng được coi là thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới dạng văn bản:

  1. Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
  2. Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
  3. Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
  4. Trong giao dịch, các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và các tài liệu tương tự khác;
  5. Qua trao đổi về đơn khởi kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài do một bên đưa ra và bên còn lại không phủ nhận.

Như vậy, yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải được xác lập “dưới dạng văn bản” không đồng nghĩa với việc thỏa thuận này bắt buộc phải được lập trên văn bản giấy và có chữ ký trực tiếp của các bên. Pháp luật trọng tài thương mại thừa nhận nhiều hình thức xác lập khác nhau, trong đó có thư điện tử và các hình thức trao đổi thông tin bằng văn bản.

Do đó, việc thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong hợp đồng giao kết bằng phương thức điện tử không tự thân làm ảnh hưởng đến việc đáp ứng yêu cầu về hình thức theo Điều 16 LTTTM.

2. Giá trị pháp lý của điều khoản trọng tài trong hợp đồng điện tử

Điều 8 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (Luật GDĐT) quy định thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.

Đồng thời, khoản 1 Điều 9 Luật GDĐT quy định trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu.

Các quy định này cho thấy pháp luật về giao dịch điện tử thừa nhận giá trị pháp lý của thông tin được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu và cho phép thông điệp dữ liệu đáp ứng yêu cầu về hình thức văn bản khi bảo đảm các điều kiện luật định.

Kết hợp với Điều 16 LTTTM, trường hợp các bên giao kết hợp đồng bằng phương thức điện tử và trong hợp đồng có điều khoản giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, điều khoản này có thể đáp ứng yêu cầu về hình thức văn bản của thỏa thuận trọng tài nếu nội dung hợp đồng điện tử có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu.

Ví dụ, Công ty A và Công ty B giao kết hợp đồng mua bán thông qua một nền tảng hợp đồng điện tử. Hợp đồng có điều khoản:

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung (MCAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.”

Trường hợp hợp đồng điện tử được xác lập, lưu trữ và có thể truy cập, sử dụng để tham chiếu theo quy định pháp luật, thì việc điều khoản trọng tài được thể hiện trong hợp đồng điện tử không phải là căn cứ để xác định thỏa thuận trọng tài không đáp ứng yêu cầu về hình thức văn bản.

3. Việc sử dụng chữ ký điện tử, chữ ký số trong xác lập thỏa thuận trọng tài

Điều 16 LTTTM không quy định chữ ký số là điều kiện bắt buộc đối với việc xác lập thỏa thuận trọng tài. Ngược lại, quy định này ghi nhận thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập thông qua thư điện tử và các hình thức trao đổi thông tin bằng văn bản khác.

Khoản 1 Điều 23 Luật GDĐT quy định chữ ký điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng chữ ký điện tử. Khoản 2 Điều này quy định chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy.

Từ các quy định trên có thể thấy, việc sử dụng chữ ký số không phải là điều kiện bắt buộc để thỏa thuận trọng tài đáp ứng yêu cầu về hình thức theo Điều 16 LTTTM. Việc không sử dụng chữ ký số vì vậy cũng không phải là căn cứ để mặc nhiên xác định thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Tuy nhiên, trong thực tiễn giao kết hợp đồng điện tử, việc sử dụng phương thức ký có khả năng xác định chủ thể ký, thời điểm ký và nội dung được chấp thuận có ý nghĩa quan trọng về mặt chứng cứ. Các dữ liệu này có thể là cơ sở để xác định chủ thể thực hiện giao dịch, quá trình giao kết hợp đồng và ý chí chấp thuận của các bên đối với điều khoản trọng tài khi tranh chấp phát sinh.

4. Điều kiện về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng điện tử

Việc điều khoản trọng tài được ghi nhận trong hợp đồng điện tử chủ yếu liên quan đến yêu cầu về hình thức của thỏa thuận trọng tài. Để xác định thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay không, còn phải xem xét các điều kiện khác theo quy định pháp luật.

Theo Điều 18 LTTTM, thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong các trường hợp:

  • Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài theo Điều 2 LTTTM;
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
  • Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự;
  • Hình thức của thỏa thuận trọng tài không phù hợp với Điều 16 LTTTM;
  • Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận đó vô hiệu;
  • Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Đối với trường hợp người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền, Điều 3 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập bởi người không có thẩm quyền nhưng sau đó được người có thẩm quyền chấp nhận hoặc biết mà không phản đối.

Quy định này đáng lưu ý trong giao dịch điện tử, bởi người trực tiếp thực hiện việc ký, xác nhận hoặc thao tác trên nền tảng điện tử có thể không đồng thời là người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp lệ để xác lập thỏa thuận trọng tài.

Bên cạnh đó, đối với tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, Điều 17 LTTTM quy định trường hợp điều khoản trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thì người tiêu dùng vẫn có quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.

Do đó, việc thỏa thuận trọng tài được thể hiện trong hợp đồng điện tử không đồng nghĩa với việc thỏa thuận đó mặc nhiên có hiệu lực. Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài vẫn phải được xem xét trên cơ sở các điều kiện về chủ thể, thẩm quyền, năng lực, ý chí và nội dung của thỏa thuận theo quy định pháp luật.

5. Nguyên tắc độc lập của thỏa thuận trọng tài đối với hợp đồng điện tử

Điều 19 LTTTM quy định: “Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.”

Quy định này thể hiện nguyên tắc độc lập của thỏa thuận trọng tài đối với hợp đồng chính. Theo đó, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài được xem xét độc lập với hiệu lực của hợp đồng có chứa thỏa thuận trọng tài.

Vì vậy, trường hợp một bên cho rằng hợp đồng điện tử vô hiệu, bị hủy bỏ hoặc không thể thực hiện được thì các tình trạng pháp lý này không đương nhiên làm mất hiệu lực của điều khoản trọng tài. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc hợp đồng chính vô hiệu và việc thỏa thuận trọng tài có thực sự được xác lập hay không.

Trường hợp có căn cứ cho rằng chữ ký điện tử bị giả mạo, người thực hiện việc ký hoặc xác nhận không có thẩm quyền, hoặc không có căn cứ chứng minh một bên đã thể hiện ý chí chấp thuận điều khoản trọng tài, thì vấn đề cần xem xét không chỉ là hiệu lực của hợp đồng chính mà còn là sự tồn tại và hiệu lực của chính thỏa thuận trọng tài.

6. Một số lưu ý khi xác lập điều khoản trọng tài trong hợp đồng điện tử

Từ các quy định nêu trên, khi xác lập điều khoản trọng tài trong hợp đồng được giao kết bằng phương thức điện tử, doanh nghiệp cần lưu ý:

  • Quy định rõ ràng và cụ thể việc lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp;
  • Ghi chính xác và đầy đủ tên tổ chức trọng tài được các bên lựa chọn nhằm hạn chế tranh luận về tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp;
  • Kiểm tra thẩm quyền của người thực hiện việc ký, xác nhận hoặc chấp thuận hợp đồng điện tử;
  • Sử dụng phương thức ký kết cho phép xác định chủ thể thực hiện giao dịch, thời điểm thực hiện và nội dung được chấp thuận;
  • Lưu trữ đầy đủ hợp đồng điện tử, thông điệp dữ liệu, lịch sử giao dịch, email xác nhận, dữ liệu liên quan đến chữ ký điện tử và các tài liệu có liên quan;
  • Trường hợp thỏa thuận trọng tài được ghi nhận tại điều kiện giao dịch chung, phụ lục hoặc tài liệu khác, cần bảo đảm việc dẫn chiếu đủ rõ để xác định tài liệu đó là một phần của thỏa thuận giữa các bên;
  • Đối với hợp đồng với người tiêu dùng, cần lưu ý quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng theo Điều 17 LTTTM.

Kết luận

Điều khoản trọng tài trong hợp đồng điện tử có thể đáp ứng yêu cầu về hình thức văn bản và có giá trị pháp lý nếu được xác lập phù hợp với Điều 16 LTTTM và pháp luật về giao dịch điện tử.

Tuy nhiên, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài vẫn phải được xem xét trên cơ sở thẩm quyền, năng lực, ý chí của các bên và các trường hợp vô hiệu theo Điều 18 LTTTM.

 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "HỢP ĐỒNG KÝ ĐIỆN TỬ CÓ ĐIỀU KHOẢN TRỌNG TÀI: THỎA THUẬN TRỌNG TÀI CÓ HỢP LỆ KHÔNG?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

 

Tin liên quan

TRỌNG TÀI QUY CHẾ HAY TRỌNG TÀI VỤ VIỆC: DOANH NGHIỆP CẦN LƯU Ý GÌ KHI LỰA CHỌN?
08 10/2026

TRỌNG TÀI QUY CHẾ HAY TRỌNG TÀI VỤ VIỆC: DOANH NGHIỆP CẦN LƯU Ý GÌ KHI LỰA CHỌN?

Trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc được pháp luật quy định như thế nào? Theo khoản 6 Điều 3 LTTTM, trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của LTTTM và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó.

NGUYÊN ĐƠN CÓ ĐƯỢC THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI KHÔNG?
29 09/2026

NGUYÊN ĐƠN CÓ ĐƯỢC THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI KHÔNG?

Vậy, sau khi đã nộp Đơn khởi kiện tại Trung tâm trọng tài, Nguyên đơn có được thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện hay không? Việc sửa đổi, bổ sung được thực hiện đến thời điểm nào và có trường hợp nào Hội đồng Trọng tài (HĐTT) không chấp nhận yêu cầu sửa đổi, bổ sung?

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG