Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

NHẬN DIỆN ĐÚNG VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

24/07/2026

Trong hoạt động thương mại, quyền khởi kiện chỉ thực sự có ý nghĩa khi được thực hiện trong giới hạn thời gian mà pháp luật cho phép. Chính vì vậy, thời hiệu khởi kiện không chỉ là một chế định pháp lý bảo đảm tính ổn định và an toàn cho các giao dịch mà còn là cơ chế thúc đẩy các chủ thể chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, việc nhận diện và áp dụng đúng quy định về thời hiệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp.

1. Quy định tổng quan về thời hiệu khởi kiện trọng tài

1.1. Cơ sở pháp lý

Thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian mà pháp luật cho phép chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, tại Điều 33 Luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010) quy định:

"Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm".

Như vậy, thời hiệu khởi kiện trong tố tụng trọng tài không phụ thuộc vào thời điểm phát sinh hợp đồng mà được xác định từ thời điểm các bên biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm.

 

1.2. Nguyên tắc áp dụng luật chuyên ngành trong xác định thời hiệu khởi kiện

Điểm đáng lưu ý trong Điều 33 LTTTM 2010 trên chính là cụm từ “Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác”. Quy định này thể hiện nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành khi pháp luật chuyên ngành có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện đối với từng loại quan hệ pháp luật cụ thể. Theo đó, để xác định chính xác thời hiệu khởi kiện, các bên tranh chấp không chỉ căn cứ vào Luật Trọng tài thương mại mà còn phải đối chiếu với các quy định của luật chuyên ngành có liên quan.

Chẳng hạn, Điều 319 Luật Thương mại năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics, Luật Thương mại tại điểm e khoản 1 Điều 137 Luật này quy định nếu sau khi bị khiếu nại, quá 09 tháng kể từ ngày giao hàng mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài, Tòa án thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hóa phát sinh.

2. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện

Mặc dù LTTTM 2010 có quy định về thời hiệu khởi kiện song không đề cập rõ ràng các trường hợp về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện. Trên thực tế, Hội đồng trọng tài thường có xu hướng viện dẫn quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 để loại trừ thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Cụ thể, theo Điều 156 BLDS 2015, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

a). Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;

b) Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

c) Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây: i) Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân; ii) Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.

3. Thời gian bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện

Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015 còn ghi nhận thêm ba tình huống mà ở đó thời hiệu khởi kiện sẽ được bắt đầu lại, bao gồm:

  • Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với chủ thể khởi kiện;
  • Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với chủ thể khởi kiện;
  • Các bên đã tự hòa giải được với nhau.

Thời hiệu khởi kiện sẽ được bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra một trong các sự kiện nêu trên.

Quy định này góp phần bảo đảm quyền khởi kiện của các bên trong trường hợp nghĩa vụ vẫn đang được thừa nhận hoặc các bên đang tích cực giải quyết tranh chấp, đồng thời khuyến khích thiện chí thực hiện nghĩa vụ và hòa giải giữa các chủ thể.

4. Thực tiễn áp dụng thời hiệu khởi kiện trong tố tụng trọng tài

Trong thực tiễn, thời hiệu khởi kiện trong tố tụng trọng tài, thường được Hội đồng trọng tài khi có yêu cầu của các bên trong vụ tranh chấp. Nếu một bên cho rằng yêu cầu khởi kiện đã hết thời hiệu, một bên có thể nêu ý kiến trong Bản tự bảo vệ hoặc trong quá trình tố tụng trước khi Hội đồng trọng tài ra phán quyết. Nếu không có yêu cầu áp dụng thời hiệu, Hội đồng trọng tài không tự mình viện dẫn việc hết thời hiệu để từ chối giải quyết tranh chấp mà vẫn tiếp tục giải quyết vụ việc.

LTTTM 2010 không quy định việc Trung tâm trọng tài được quyền trả lại đơn khởi kiện hoặc từ chối thụ lý vì lý do hết thời hiệu. Trung tâm trọng tài thực hiện việc tiếp nhận đơn và các thủ tục hành chính ban đầu. Sau khi được thành lập, Hội đồng trọng tài sẽ xem xét các vấn đề về nội dung, thời điểm quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, quy định của luật chuyên ngành, thời gian không tính vào thời hiệu và căn cứ bắt đầu lại thời hiệu, trong đó có vấn đề thời hiệu nếu một bên có yêu cầu áp dụng.

Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu và Hội đồng trọng tài xác định yêu cầu khởi kiện đã hết thời hiệu, không có căn cứ loại trừ thời gian không tính vào thời hiệu hoặc bắt đầu lại thời hiệu, Hội đồng trọng tài xem xét vấn đề thời hiệu trong phán quyết và quyết định không chấp nhận hoặc không giải quyết yêu cầu đã hết thời hiệu. Việc hết thời hiệu không phải là căn cứ để đình chỉ giải quyết tranh chấp theo Điều 59 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

5. Kết luận

Quy định về thời hiệu khởi kiện trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010 được đánh giá là tương đối hợp lý, bảo đảm sự cân bằng giữa quyền khởi kiện của các bên và yêu cầu ổn định của môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn phát sinh nhiều tranh luận liên quan đến việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, đặc biệt trong các tranh chấp về hợp đồng xây dựng, hợp đồng dịch vụ dài hạn hoặc các nghĩa vụ được thực hiện theo từng giai đoạn.

Do đó, để hạn chế rủi ro pháp lý, doanh nghiệp cần chủ động ghi nhận thời điểm xảy ra vi phạm để tiến hành các thủ tục nộp đơn khởi kiện trọng tài đúng hạn và thực hiện quy trình tố tụng trọng tài bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình.
 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "NHẬN DIỆN ĐÚNG VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

Tin liên quan

10 THUẬT NGỮ LATIN THÔNG DỤNG TRONG TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
21 07/2026

10 THUẬT NGỮ LATIN THÔNG DỤNG TRONG TRỌNG TÀI QUỐC TẾ

Để thuận tiện cho việc tham khảo, nghiên cứu một số thuật ngữ Latin trong trọng tài thương mại quốc tế, trong bài viết này, MCAC giới thiệu 10 thuật ngữ Latin thông dụng trong trọng tài thương mại quốc tế do Luật sư, Trọng tài viên Kiều Anh Vũ tổng hợp và giới thiệu.

TRAO ĐỔI VỀ ĐƠN KHỞI KIỆN VÀ BẢN TỰ BẢO VỆ CÓ THỂ LÀM PHÁT SINH THỎA THUẬN TRỌNG TÀI KHÔNG?
16 07/2026

TRAO ĐỔI VỀ ĐƠN KHỞI KIỆN VÀ BẢN TỰ BẢO VỆ CÓ THỂ LÀM PHÁT SINH THỎA THUẬN TRỌNG TÀI KHÔNG?

Khoản 2 Điều 16 Luật TTTM quy định thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới hình thức văn bản. Tại điểm đ khoản 2 Điều này ghi nhận một hình thức đặc biệt của thỏa thuận trọng tài: “Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận”.

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG