Điện thoại: 0935 925 068
07/01/2026
Trong cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, phán quyết trọng tài là kết quả cuối cùng của quá trình tố tụng và có giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên. Tuy nhiên, trên thực tế, sau khi phán quyết được ban hành, có thể phát sinh các sai sót mang tính kỹ thuật, cách diễn đạt chưa rõ ràng hoặc bỏ sót một số yêu cầu đã được các bên trình bày trong quá trình tố tụng. Nhằm khắc phục những hạn chế này mà không làm thay đổi bản chất của phán quyết, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM 2010) cho phép sửa chữa, giải thích và bổ sung phán quyết trọng tài trong những trường hợp nhất định.

Theo khoản 1 Điều 63 Luật TTTM 2010, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa khi phát hiện các lỗi rõ ràng về hình thức hoặc kỹ thuật, bao gồm lỗi chính tả, lỗi đánh máy, lỗi tính toán hoặc các sai sót tương tự. Trường hợp Hội đồng trọng tài xét thấy yêu cầu này là chính đáng thì phải sửa chữa trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 33 Quy tắc Tố tụng của MCAC, theo đó: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được Phán quyết trọng tài, trừ khi các bên có thỏa thuận khác về thời hạn, một bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài sửa những lỗi chính tả, lỗi in, lỗi đánh máy và các lỗi khác có bản chất tương tự; lỗi số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai trong Phán quyết trọng tài và phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu Hội đồng Trọng tài thấy yêu cầu này là chính đáng và có chứng cứ về việc yêu cầu này đã được thông báo cho bên kia thì phải lập Quyết định sửa chữa trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu”[1]. Trong trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể được gia hạn theo khoản 5 Điều 33 Quy tắc này.
Đáng chú ý, tại khoản 3 Điều 63 Luật TTTM 2010 và khoản 2 Điều 33 Quy tắc Tố tụng của MCAC còn cho phép Hội đồng Trọng tài chủ động sửa chữa các lỗi nêu trên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập phán quyết, ngay cả khi không có yêu cầu từ các bên. Quy định này góp phần bảo đảm phán quyết đạt độ chính xác cao về mặt hình thức và kỹ thuật trình bày, hạn chế rủi ro có thể phát sinh trong giai đoạn thi hành.
Trong một số trường hợp, nội dung phán quyết trọng tài có thể chưa được diễn đạt một cách đầy đủ hoặc rõ ràng, dẫn đến những cách hiểu khác nhau và gây khó khăn cho việc thi hành. Để xử lý tình huống này, pháp luật trọng tài cho phép giải thích phán quyết trọng tài, song thẩm quyền này chỉ thuộc về Hội đồng Trọng tài đã ban hành phán quyết.
Cụ thể, theo khoản 2 Điều 63 Luật TTTM 2010 và khoản 3 Điều 33 Quy tắc Tố tụng của MCAC, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết (trừ khi các bên có thỏa thuận khác về thời hạn), một bên có quyền yêu cầu Hội đồng Trọng tài giải thích phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia. Nếu Hội đồng Trọng tài xác định yêu cầu là chính đáng, việc giải thích phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; nội dung giải thích này là một phần của phán quyết.
Việc giải thích phán quyết không làm thay đổi nội dung hay kết luận của phán quyết, mà chỉ nhằm làm rõ ý chí và lập luận đã được Hội đồng Trọng tài thể hiện, qua đó bảo đảm tính minh bạch và khả năng thi hành thống nhất của phán quyết trên thực tế.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy, có trường hợp Hội đồng Trọng tài đã xem xét nhiều yêu cầu khác nhau nhưng lại bỏ sót một hoặc một số yêu cầu đã được các bên trình bày trong quá trình tố tụng. Để khắc phục tình trạng này, Luật TTTM 2010 cho phép bổ sung phán quyết trọng tài, cụ thể: “Trường hợp các bên không có thoả thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu”[2].
Quy định này tiếp tục được cụ thể hóa tại khoản 4 Điều 33 Quy tắc Tố tụng của MCAC, ttheo đó, một bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài lập phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu đã được trình bày nhưng chưa được ghi nhận trong phán quyết. Hội đồng Trọng tài chỉ lập phán quyết bổ sung khi xét thấy yêu cầu là chính đáng và có căn cứ chứng minh việc thông báo đã được thực hiện cho bên còn lại. Trong trường hợp cần thiết, thời hạn lập phán quyết bổ sung cũng có thể được gia hạn.
Có thể thấy rằng, mặc dù phán quyết trọng tài mang tính chung thẩm và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Quy tắc Tố tụng của MCAC vẫn thiết lập một cơ chế pháp lý cần thiết cho phép sửa chữa, giải thích và bổ sung phán quyết trong những giới hạn chặt chẽ. Cơ chế này không nhằm xem xét lại nội dung tranh chấp hay làm thay đổi bản chất của phán quyết, mà hướng tới việc khắc phục các sai sót mang tính kỹ thuật, làm rõ những nội dung chưa được diễn đạt đầy đủ hoặc hoàn thiện phạm vi giải quyết đối với các yêu cầu đã được đặt ra trong quá trình tố tụng, qua đó vừa bảo đảm tính ổn định và giá trị chung thẩm của phán quyết trọng tài, vừa nâng cao tính minh bạch, độ chính xác và khả năng thi hành của phán quyết trong thực tiễn, góp phần củng cố hiệu quả và uy tín của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "Phán quyết trọng tài có thể được sửa chữa, giải thích hoặc bổ sung trong những trường hợp nào?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
Quy định pháp luật về yêu cầu thay đổi Trọng tài viên trong tố tụng trọng tài thương mại và thẩm quyền quyết định theo Luật Trọng tài và Quy tắc MCAC.
Quy định về thời hiệu khởi kiện trong trọng tài thương mại là 02 năm hay 03 năm? Phân tích sự khác biệt giữa Luật Trọng tài thương mại 2010 và Bộ luật Dân sự 2015 cùng các đề xuất sửa đổi mới nhất