Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00
|Email: contact@mcac.vn
|Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799
| Ngôn ngữ:Điện thoại: 0935 925 068
05/11/2026
Sau khi kết thúc phiên họp giải quyết tranh chấp, các bên thường quan tâm đến việc Hội đồng Trọng tài có công bố ngay kết quả giải quyết tranh chấp hay không, cũng như thời điểm ban hành phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, việc kết thúc phiên họp cuối cùng không đồng nghĩa với việc phán quyết phải được ban hành ngay tại thời điểm đó. Thời hạn ban hành và thời điểm có hiệu lực của phán quyết trọng tài được xác định theo các quy định pháp luật có liên quan.

Theo Điều 55 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM), phiên họp giải quyết tranh chấp là giai đoạn các bên trình bày yêu cầu, ý kiến, lập luận và cung cấp chứng cứ để Hội đồng Trọng tài xem xét, giải quyết vụ tranh chấp.
Theo khoản 4 Điều 25 Quy tắc Tố tụng của Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung (MCAC), tại phiên họp giải quyết vụ tranh chấp, nếu thấy các bên không còn bất kỳ tài liệu hoặc chứng cứ có liên quan nào để cung cấp, Hội đồng Trọng tài tuyên bố phiên họp đó là phiên họp cuối cùng. Sau khi kết thúc phiên họp cuối cùng, Hội đồng Trọng tài không có nghĩa vụ xem xét bất kỳ tài liệu hoặc chứng cứ bổ sung nào, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Việc tuyên bố kết thúc phiên họp cuối cùng không đồng nghĩa với việc Hội đồng Trọng tài phải công bố ngay kết quả giải quyết tranh chấp. Theo khoản 3 Điều 61 Luật TTTM, phán quyết trọng tài có thể được ban hành ngay tại phiên họp hoặc trong thời hạn luật định kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng.
Về nguyên tắc ban hành phán quyết, Điều 60 Luật TTTM và Điều 31 Quy tắc Tố tụng MCAC quy định Hội đồng Trọng tài ra phán quyết theo nguyên tắc biểu quyết đa số. Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số, phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Nguyên tắc biểu quyết này áp dụng đối với Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên; trường hợp vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất giải quyết thì Trọng tài viên đó quyết định nội dung phán quyết.
Như vậy, thời điểm kết thúc phiên họp cuối cùng không đương nhiên là thời điểm công bố kết quả giải quyết tranh chấp. Kết quả giải quyết tranh chấp được ghi nhận chính thức trong phán quyết trọng tài do Hội đồng Trọng tài ban hành.
Theo khoản 3 Điều 61 Luật TTTM, phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng.
Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại MCAC, khoản 3 Điều 32 Quy tắc Tố tụng MCAC quy định phán quyết trọng tài phải được lập trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng giải quyết vụ tranh chấp. Theo đó, thời hạn 30 ngày là thời hạn tối đa để ban hành phán quyết; Hội đồng Trọng tài có thể ban hành phán quyết sớm hơn, bao gồm trường hợp ban hành ngay tại phiên họp.
Theo khoản 1 Điều 61 Luật TTTM và khoản 1 Điều 32 Quy tắc Tố tụng MCAC, phán quyết trọng tài phải được lập bằng văn bản và thể hiện các nội dung bao gồm ngày, tháng, năm và địa điểm ra phán quyết; căn cứ lập phán quyết; kết quả giải quyết tranh chấp; thời hạn thi hành phán quyết; việc phân bổ chi phí trọng tài và chữ ký của Trọng tài viên.
Theo khoản 4 Điều 61 Luật TTTM, phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành. Đối với vụ tranh chấp tại MCAC, khoản 4 Điều 32 Quy tắc Tố tụng MCAC quy định Hội đồng Trọng tài gửi phán quyết cho Trung tâm ngay sau ngày lập. Trung tâm gửi ngay cho các bên bản chính hoặc bản sao có chứng thực của phán quyết.
Khoản 5 Điều 4 và khoản 5 Điều 61 Luật TTTM quy định phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Đồng thời, khoản 5 Điều 32 Quy tắc Tố tụng MCAC xác định phán quyết trọng tài là chung thẩm và ràng buộc các bên.
Như vậy, phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành, không phụ thuộc vào ngày các bên thực tế nhận được phán quyết. Tuy nhiên, ngày nhận phán quyết là căn cứ xác định thời hạn thực hiện một số quyền tố tụng của các bên theo quy định pháp luật.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 69 Luật TTTM, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng Trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật TTTM thì có quyền làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, đây không phải là thủ tục kháng cáo hay xét xử lại nội dung tranh chấp: Theo khoản 4 Điều 71 Luật TTTM, khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng Trọng tài đã giải quyết.
Ngoài ra, theo Điều 63 Luật TTTM và Điều 33 Quy tắc Tố tụng MCAC, các bên có quyền yêu cầu Hội đồng Trọng tài sửa chữa, giải thích hoặc lập phán quyết bổ sung trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn. Quyết định sửa chữa, quyết định giải thích và phán quyết trọng tài bổ sung là một phần của phán quyết trọng tài.
Như vậy, tính chung thẩm của phán quyết trọng tài không loại trừ các cơ chế pháp lý do pháp luật và Quy tắc Tố tụng quy định nhằm bảo đảm tính chính xác, rõ ràng và hợp pháp của phán quyết.
Từ các quy định trên, cần phân biệt thời điểm kết thúc phiên họp cuối cùng với thời điểm ban hành phán quyết trọng tài; đồng thời xác định rõ thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý và thời điểm các bên nhận được phán quyết. Việc xác định chính xác các mốc thời gian này giúp doanh nghiệp chủ động theo dõi tiến trình giải quyết tranh chấp và kịp thời thực hiện các quyền, nghĩa vụ có liên quan.
Bài viết trên đã phân tích chi tiết vấn đề "SAU KHI KẾT THÚC PHIÊN HỌP CUỐI CÙNG GIẢI QUYẾT VỤ TRANH CHẤP, KHI NÀO PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI ĐƯỢC BAN HÀNH VÀ CÓ HIỆU LỰC?". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:
iệc lựa chọn thủ tục rút gọn và Hội đồng Trọng tài gồm một Trọng tài viên cần được xem xét trên cơ sở thỏa thuận của các bên, quy định pháp luật và quy tắc tố tụng trọng tài có liên quan. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, việc giải quyết tranh chấp bởi Trọng tài viên duy nhất đều đồng nghĩa với việc áp dụng thủ tục rút gọn. Vấn đề đặt ra là thủ tục này được áp dụng theo những điều kiện nào, có những đặc điểm gì và doanh nghiệp cần cân nhắc những yếu tố nào để lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp phù hợp?
Hợp đồng ưu tiên bản tiếng Anh có bắt buộc tố tụng trọng tài bằng tiếng Anh? Tìm hiểu quy định tại Điều 10 Luật Trọng tài thương mại 2010 và Quy tắc Tố tụng MCAC về ngôn ngữ trọng tài.