Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00

|

Email: contact@mcac.vn

|

Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799

| Ngôn ngữ:

Điện thoại: 0935 925 068

Ngôn ngữ:

XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT CHẬM THANH TOÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 131/2024/QĐ-PQTT VỀ VIỆC YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

24/08/2026

Trong tố tụng trọng tài, việc xác định lãi suất chậm thanh toán phải căn cứ vào thỏa thuận của các bên, tính chất của quan hệ tranh chấp và quy định pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, sự không đồng thuận đối với căn cứ pháp lý hoặc mức lãi suất mà Hội đồng Trọng tài áp dụng không đương nhiên trở thành căn cứ hủy phán quyết trọng tài.

Quyết định số 131/2024/QĐ-PQTT ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là trường hợp thực tiễn đáng chú ý về việc xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài liên quan đến cách xác định lãi suất chậm thanh toán.[1]

1. Tóm tắt vụ việc

Công ty TNHH B (Nguyên đơn) và Công ty Cổ phần T6 (Bị đơn) ký Hợp đồng dịch vụ số 0506/2022/HDDV/BCM-TLM ngày 30/6/2022. Theo thỏa thuận, Nguyên đơn cung cấp dịch vụ làm mới thương hiệu cho Bị đơn và một dự án khu dân cư tại tỉnh Đồng Nai. Giá trị hợp đồng là 2.852.080.000 đồng, đã bao gồm thuế giá trị gia tăng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn thanh toán đợt đầu với số tiền 1.140.832.000 đồng. Sau đó, các bên phát sinh tranh chấp liên quan đến khối lượng công việc đã hoàn thành, việc nghiệm thu sản phẩm và nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ.

Căn cứ thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng, Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn tại Trung tâm Trọng tài X, yêu cầu thanh toán phí dịch vụ, tiền lãi chậm thanh toán, tiền phạt vi phạm, chi phí pháp lý và phí trọng tài.

Ngày 21/02/2024, Hội đồng Trọng tài ban hành phán quyết, chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyên đơn, buộc Bị đơn thanh toán phí dịch vụ còn nợ là 638.792.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 36.227.381 đồng.

2. Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Không đồng ý với phán quyết, Bị đơn gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy phán quyết trọng tài. Một trong những căn cứ được Bị đơn đưa ra là việc Hội đồng Trọng tài áp dụng không đúng quy định pháp luật để xác định lãi suất chậm thanh toán.

Bị đơn cho rằng Hội đồng Trọng tài áp dụng Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định mức lãi suất chậm trả là 10%/năm. Theo Bị đơn, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dịch vụ thương mại nên khoản tiền lãi phải được tính theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005.

Tòa án nhận định mức lãi suất nợ quá hạn của ba ngân hàng được thể hiện trong hồ sơ lần lượt là 18,75%/năm, 15,75%/năm và 15%/năm. Mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng là 16,5%/năm.

Trong khi đó, Hội đồng Trọng tài chỉ áp dụng mức lãi suất 10%/năm, thấp hơn mức trung bình của ba ngân hàng và có lợi cho Bị đơn. Tòa án đồng thời xác định việc xem xét căn cứ pháp lý và mức lãi suất áp dụng thuộc nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng Trọng tài đã giải quyết.

Trên cơ sở đó, Tòa án quyết định không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Bị đơn.

3. Nội dung bình luận

Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 quy định trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ hoặc các chi phí hợp lý khác, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Án lệ số 09/2016/AL xác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường được tham chiếu từ mức lãi suất nợ quá hạn của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương. Đây là cơ sở để xác định mức lãi suất chậm thanh toán trong các tranh chấp kinh doanh, thương mại có áp dụng Điều 306 Luật Thương mại.[2]

Tương tự, Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn việc xác định lãi suất chậm trả trên cơ sở mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng thương mại.[3]

Trong vụ việc trên, mặc dù Tòa án không trực tiếp viện dẫn Án lệ số 09/2016/AL, việc đối chiếu mức lãi suất của ba ngân hàng để xác định mức trung bình 16,5%/năm thể hiện cách tiếp cận tương đồng với nội dung của án lệ và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP.

Bên cạnh vấn đề xác định lãi suất, khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng Trọng tài đã giải quyết.

Do đó, việc Bị đơn không đồng ý với căn cứ pháp lý hoặc mức lãi suất mà Hội đồng Trọng tài áp dụng không đương nhiên là căn cứ để hủy phán quyết. Việc hủy phán quyết chỉ được đặt ra khi có căn cứ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại.

Đối với tố tụng tại MCAC, Điều 19 Quy tắc Tố tụng trọng tài quy định Hội đồng Trọng tài có quyền yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ. Điều 24 của Quy tắc quy định Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp không có yếu tố nước ngoài.[4]

Vì vậy, khi yêu cầu thanh toán tiền lãi, các bên cần xác định và cung cấp đầy đủ tài liệu về nghĩa vụ thanh toán, số tiền chậm trả, thời điểm bắt đầu tính lãi và mức lãi suất được yêu cầu. Trường hợp áp dụng Điều 306 Luật Thương mại, việc tham chiếu mức lãi suất nợ quá hạn của ít nhất ba ngân hàng là cơ sở quan trọng để bảo đảm tính rõ ràng và thuyết phục của phán quyết.

4. Kết luận

Từ Quyết định số 131/2024/QĐ-PQTT có thể thấy, việc một bên không đồng ý với căn cứ pháp lý hoặc mức lãi suất chậm thanh toán mà Hội đồng Trọng tài áp dụng không đương nhiên trở thành căn cứ hủy phán quyết trọng tài.

Việc xác định đúng căn cứ tính lãi, thu thập đầy đủ tài liệu về mức lãi suất tham chiếu và phân biệt giữa nội dung tranh chấp với căn cứ hủy phán quyết là những vấn đề cần được lưu ý trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

[1] Quyết định số 131/2024/QĐ-PQTT ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Án lệ số 09/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3] Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[4] Quy tắc Tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài Thương mại Miền Trung.
 

Bài viết trên đã phân tích chi tiết về "XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT CHẬM THANH TOÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 131/2024/QĐ-PQTT VỀ VIỆC YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI". Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc cần hỗ trợ pháp lý, vui lòng liên hệ Ban thư ký MCAC:

 

Tin liên quan

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 1185/2022/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
11 09/2026

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 1185/2022/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thỏa thuận trọng tài là căn cứ để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Theo Luật Trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh và phải được thể hiện dưới hình thức phù hợp với quy định pháp luật. Quyết định số 1185/2022/QĐ-PQTT ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp liên quan đến việc xác định thỏa thuận trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp và quyền phản đối của các bên đối với thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài.

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI DO NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT XÁC LẬP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 810/2017/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
07 09/2026

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI DO NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT XÁC LẬP: BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH SỐ 810/2017/QĐ-PQTT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Quyết định số 810/2017/QĐ-PQTT ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp thực tiễn đáng chú ý. Mặc dù người ký hợp đồng phía Bị đơn không phải là người đại diện theo pháp luật, Tòa án vẫn xác định thỏa thuận trọng tài có hiệu lực trên cơ sở quá trình thực hiện hợp đồng và thái độ của người có thẩm quyền đối với giao dịch đã được xác lập.

Liên hệ với TRUNG TÂM TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI MIỀN TRUNG