Thời gian làm việc: T2-T6 / 8h00 – 17h00
|Email: contact@mcac.vn
|Liên hệ: 0935 925 068 - 0236 3656799
| Ngôn ngữ:Điện thoại: 0935 925 068
22/03/2023
Trường hợp một trong các bên tranh chấp thực hiện quyền “Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” theo quy định tại Điều 48 của Luật Trọng tài thương mại đối với Hội đồng trọng tài thì Hội đồng có thẩm quyền xem xét yêu cầu đó và áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các bên tranh chấp.
Điều 49 Luật Trọng tài thương mại quy định: Theo yêu cầu của một trong các bên, Hội đồng trọng tài có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các bên tranh chấp. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm:
a) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
b) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
c) Kê biên tài sản đang tranh chấp;
d) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
đ) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
e) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định rõ ràng trong Điều 49 Luật Trọng tài thương mại
Để thực hiện quyền của mình, bên có yêu cầu phải thực hiện các thủ tục được quy định rõ ở Điều 50 Luật Trọng tài thương mại, cụ thể như sau:
Thứ nhất, nếu có nhu cầu về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bên yêu cầu phải làm đơn để gửi đến Hội đồng trọng tài. Đơn nói trên phải bao gồm các nội dung chính sau:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của bên có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tên, địa chỉ của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Tóm tắt nội dung tranh chấp;
đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể.
Kèm theo đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bên yêu cầu phải cung cấp cho Hội đồng trọng tài chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó
Thứ hai, theo quyết định của Hội đồng trọng tài, bên có yêu cầu phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấn định tương đương với giá trị thiệt hại có thể xảy ra nếu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá trên sẽ được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng do Hội đồng trọng tài quyết định.
Thứ ba, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, ngay sau khi bên yêu cầu đã hoàn thành việc bảo đảm theo các quy định trên thì Hội đồng trọng tài sẽ xem xét trong việc đưa ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu không chấp nhận yêu cầu, Hội đồng trọng tài vẫn phải thông báo cho bên yêu cầu bằng văn và phải nêu rõ lý do không chấp nhận.
Thứ tư, việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài phải được thực hiện theo luật định về thi hành án dân sự.
Xem thêm: Các bên tranh chấp mất quyền phản đối khi nào?
Bài viết trên của MCAC đã giải thích cụ thể về thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài. Chi tiết xin liên hệ: hotline 0935 925 068 hoặc email contact@mcac.vn.
Khi khởi kiện tại Trung tâm trọng tài, việc chuẩn bị Đơn khởi kiện là bước khởi đầu quan trọng. Tuy nhiên, Đơn khởi kiện chỉ thể hiện yêu cầu của Nguyên đơn; để Trung tâm trọng tài xem xét thụ lý và Hội đồng Trọng tài có cơ sở giải quyết vụ tranh chấp, Nguyên đơn cần gửi kèm các tài liệu chứng minh thẩm quyền của Trọng tài, quan hệ tranh chấp và căn cứ của từng yêu cầu khởi kiện.
Thỏa thuận trọng tài là căn cứ để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Theo Luật Trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh và phải được thể hiện dưới hình thức phù hợp với quy định pháp luật. Quyết định số 1185/2022/QĐ-PQTT ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp liên quan đến việc xác định thỏa thuận trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp và quyền phản đối của các bên đối với thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài.