Điện thoại: 0935 925 068
25/11/2022
Theo khoản 1 Điều 10 Quy tắc Tố tụng của MCAC, bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn. Đơn kiện lại (đơn phản tố) phải căn cứ vào thỏa thuận trọng tài mà nguyên đơn đã dựa vào đó để khởi kiện bị đơn. Đơn kiện lại (đơn phản tố) phải bằng văn bản riêng, độc lập với Bản tự bảo vệ. Đơn kiện lại (đơn phản tố) phải được gửi tới Trung tâm vào cùng thời điểm gửi Bản tự bảo vệ.

Đơn kiện lại phải bằng văn bản riêng, độc lập với Bản tự Bảo vệ.
Có thể bạn quan tâm: Những quy định chung về Bản tự Bảo vệ của Bị đơn tại MCAC
Theo khoản 2 Điều 10 Quy tắc Tố tụng của MCAC quy định nội dung Đơn kiện lại (đơn phản tố) như sau:
- Ngày, tháng, năm làm Đơn kiện lại;
- Tên, địa chỉ của các bên;
- Tóm tắt nội dung của vụ kiện lại;
- Cơ sở kiện lại;
- Trị giá của vụ kiện lại và các yêu cầu khác của Bị đơn;
- Chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc của người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp Bị đơn là tổ chức; chữ ký của cá nhân hoặc của người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp bị đơn là cá nhân.

Đơn kiện lại khi gửi đến MCAC cần đầy đủ nội dung nêu trên.
Theo khoản 6 Điều 10 Quy tắc Tố tụng của MCAC quy định: Đơn kiện lại (đơn phản tố) được giải quyết đồng thời bởi chính Hội đồng Trọng tài giải quyết Đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Như vậy, Hội đồng Trọng tài giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn sẽ thực hiện việc xem xét giải quyết đơn kiện lại (đơn phản tố) của bị đơn (nếu Hội đồng Trọng tài xác định có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với vấn đề khiếu nại trong đơn kiện lại). Việc giải quyết đơn kiện lại của Hội đồng Trọng tài cũng sẽ tương tự như đối với đơn kiện của nguyên đơn.
Để đảm bảo Đơn kiện lại được MCAC chấp thuận và xử lý nhanh chóng, hãy tuân thủ những quy định trong bài viết trên. Chi tiết xin liên hệ: hotline 0935 925 068 hoặc email contact@mcac.vn.
Trong cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, phán quyết trọng tài là kết quả cuối cùng của quá trình tố tụng và có giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên. Tuy nhiên, trên thực tế, sau khi phán quyết được ban hành, có thể phát sinh các sai sót mang tính kỹ thuật, cách diễn đạt chưa rõ ràng hoặc bỏ sót một số yêu cầu đã được các bên trình bày trong quá trình tố tụng. Nhằm khắc phục những hạn chế này mà không làm thay đổi bản chất của phán quyết, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM 2010) cho phép sửa chữa, giải thích và bổ sung phán quyết trọng tài trong những trường hợp nhất định.
Bài viết phân tích chi tiết quy định pháp luật về căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại, các bất cập hiện nay và định hướng hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.